- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Tr - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Tr.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 551/2023/HS-PT Ngày 17 tháng 8 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đắc Minh;
Ông Dương Tuấn Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Nhường – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 445/2023/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thành Tr. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2023/HS-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo: Nguyễn Thành Tr; giới tính: nam; sinh ngày 11 tháng 02 năm 1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường 27, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: đường S, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: nhân viên khách sạn; con ông: Nguyễn Văn Q (sinh năm 1969) và bà Ngô Thị S (sinh năm 1970); tiền án: không; tiền sự: ngày 15/10/2019, Tòa án nhân dân huyện H có Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (đến ngày 27/11/2020 chấp hành xong); bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/3/2022. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Luật sư Ngô Đình Nh và Luật sư Nguyễn Hồng Nh, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Trần Thị Ngọc D, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
(Trong vụ án, còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút, ngày 14/3/2022, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy, Công an quận T phối hợp với Công an phường T1 tuần tra đến trước địa chỉ đường B, phường T1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Trần Anh K đang điều khiển xe gắn máy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, thu giữ tại baga xe gắn máy do K điều khiển 01 túi G, bên trong chứa 01 túi giấy màu xanh lá đựng 01 hộp giấy màu đen, bên ngoài in chữ “LOUIS VUITTION”; bên trong hộp giấy chứa 03 gói nylon chứa tổng cộng 299 viên nén màu hồng nghi vấn ma túy nên tổ công tác đã mời K về trụ sở Công an để làm rõ. Anh K khai số viên nén bị thu giữ do Nguyễn Thành Tr đặt và gửi đơn hàng thông qua ứng dụng giao hàng công nghệ G cho khách của Tr tại khu vực quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với tiền công vận chuyển 27.000 đồng. Kết luận giám định 299 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 141,87g, không tìm thấy ma túy.
Mở rộng điều tra, Công an quận T phát hiện Nguyễn Thành Tr đang có mặt tại quầy lễ tân khách sạn M thuộc phường S, quận T nên đã mời Tr về trụ sở Công an để làm rõ. Tr thừa nhận đã giao cho anh K số viên nén màu hồng nêu trên để đem đi giao cho người đàn ông tên Ph (không rõ lai lịch) tại địa chỉ đường H, phường B1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu của người đàn ông tên T (không rõ lai lịch), sẽ được T trả tiền công và ma túy đá để sử dụng cho bản thân.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành Tr tại địa chỉ đường S, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ:
- Trong phòng ngủ tầng hai 01 ba lô màu đen ghi chữ “SUPERDRY” treo trên tường trái, bên trong có: 01 túi giấy màu xanh chứa 01 túi nylon màu vàng ghi chữ “GUANYINWANG” chứa tinh thể màu trắng (m1) và 04 túi nylon, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng (m2), qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 576,17 gam, loại Methamphetamine; 01 hũ nhựa nắp kim loại bên trong chứa tinh thể màu trắng (m3); 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng (m4), qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 355,26 gam, loại Ketamine;
- Trên sàn nhà phòng ngủ 01 túi giấy màu trắng ghi chữ “Hân Yuri Shop”, bên trong chứa 04 hủ nhựa nắp nhựa, bên trong mỗi hủ chứa tinh thể màu trắng (m5), qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1868,50 gam, loại Ketamine ; 01 hộp giấy màu đỏ ghi chữ “Royal Crown” bên trong có: + 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng (m6), qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 15,0247 gam, loại Ketamine; + 01 gói nylon chứa 10 viên nén màu xanh (m7) và 01 viên nén màu xám (m8), qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 6,2148 gam, loại MDMA; + 01 hộp giấy màu đỏ ghi chữ “Olym Pianus” bên trong có 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng (m9), qua giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,9981gam, loại Methamphetamine.
- Ngoài ra, còn thu giữ của Tr: 01 điện thoại di động hiệu Samsung; 01 xe gắn máy biển số 51S9-1493; 01 cân tiểu ly hiệu Marllono; 05 túi giấy màu xanh; 05 bìa carton màu đen ghi chữ “LOUIS VUITTION”; 01 cuộn băng keo in chữ “HÀNG DỄ VỠ” và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Thành Tr đã được trưng cầu giám định, thể hiện tại các bản Kết luận giám định số 1629,1630/KLGĐ-H ngày 22/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thành Tr khai nhận: Cuối tháng 11/2020, Tr đi cai nghiện về chưa có việc làm và thông qua mạng xã hội Telegram đã quen biết với người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) hoạt động mua bán trái phép chất ma túy. Tr liên hệ thì được T đề nghị Tr phụ giúp cất giấu ma túy cho T để khi có khách đặt mua thì T nhờ Tr đi giao rồi trả tiền công, cũng như cho ma túy đá để sử dụng, Tr đồng ý. Lần lượt vào các ngày 05 và 08/3/2022 T giao cho Tr 01 ba lô màu đen; 01 túi giấy màu trắng và 01 hộp giấy màu đỏ chứa ma túy bên trong, Tr đem số ma túy này về phòng ngủ của Tr tại đường S, phường S, quận T cất giấu để chờ T điện thoại thì mang ma túy đi bán cho khách.
Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 14/3/2022, Tr đang ở nhà thì T gọi điện thoại qua ứng dụng Telegram nói Tr lấy khoảng 300 viên thuốc lắc được cất giấu trong ba lô màu đen để sẵn trong 03 gói nylon, mỗi gói chứa 100 viên thuốc lắc đem bán cho người đàn ông tên Ph (không rõ lai lịch) ở địa chỉ đường H, phường B1, quận B. Tr lấy 03 gói nylon từ trong ba lô chứa các viên nén thuốc lắc màu hồng bỏ vào hộp giấy “LOUIS VUITTION” và đặt hộp giấy vào túi giấy màu xanh lá cây (do T đã chuẩn bị sẵn), rồi mở ứng dụng giao hàng G tìm được anh Trần Anh K (là tài xế công nghệ G) tiếp nhận vận đơn thông qua ứng dụng G. Khi tiếp nhận, anh K đã phản hồi cho Tr biết là anh K đang đợi Tr tại địa chỉ đường S, quận T. Tr điều khiển xe gắn máy biển số 51S9-1493 đến địa điểm giao hàng và đưa cho anh K 01 túi giấy màu xanh lá bên trong chứa các viên nén nhưng nói là bên trong chứa quần áo. Giao xong, Tr về phòng nghỉ tại khách sạn M phường S, quận T để theo dõi kết quả giao hàng của anh K. Khi thấy anh K giao hàng lâu, Tr nghi anh K bị bắt nên chủ động gọi điện thoại nhưng anh K không bắt máy, Tr đã đăng xuất, gỡ bỏ ứng dụng G, Telegram và xóa tất cả thông tin trên điện thoại của Tr rồi tháo sim ra bẻ gãy làm đôi vứt vào sọt rác trong phòng nghỉ khách sạn. Khi Tr vừa đi xuống quầy lễ tân khách sạn M thì bị Công an quận T đến mời về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Tr thừa nhận việc đã vào ứng dụng G gọi xe và đưa cho anh K (lái xe G) để chuyển giao cho khách như trên, đồng thời khai nhận đang cất giấu số ma túy còn lại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T khám xét và thu giữ được toàn bộ số ma túy như đã nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2023/HS-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Tr Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thành Tr có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thành Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với khối lượng ma túy đặc biệt lớn. Hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo phạm tội lần đầu, có cậu là liệt sĩ, bà cố ngoại là mẹ Việt Nam anh hùng; sau khi phạm tội đã tự thú, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nhanh chóng thu giữ vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo, đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống tù chung thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Tr nằm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng cho bản thân, Tr thỏa thuận với người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) cất giấu ma túy và phụ giúp cho T bán ma túy. Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 14/3/2022, theo yêu cầu của T, Tr lấy 03 gói nylon chứa các viên nén thuốc lắc màu hồng đem bán cho người đàn ông tên Ph (không rõ lai lịch) ở địa chỉ đường H, phường B1, quận B, đặt dịch vụ công nghệ G để giao hàng; khi anh Trần Anh K (là tài xế công nghệ G) đi giao hàng thì bị Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy, Công an quận T phối hợp với Công an phường T1 đang tuần tra phát hiện quả tang. Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tr tại địa chỉ đường S, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ số ma túy ở thể rắn các loại có khối lượng gồm: 579,1681 gam, loại Methamphetamine; 6,2148 gam, loại MDMA; 2.238,7847 gam, loại Ketamine do Tr đang cất giữ với mục đích để bán cho người khác.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thành Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cao cho xã hội; đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự trị an của xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với khối lượng ma túy lớn nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt Tử hình là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng bị cáo đã khai ra bị cáo T và T đã bị bắt giữ; ngoài ra gia đình bị cáo có công với cách mạng, gia đình khó khăn, mẹ bị cáo bị bệnh nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng ma túy mà bị cáo phạm tội thì mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, đúng pháp luật, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thành Tr phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành Tr.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2023/HS-ST ngày 18/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Tr Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Nguyễn Thành Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền gửi đơn đến Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xin ân giảm án tử hình.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND TP.HCM (2); - VKSND TP.HCM (1); - Cục THADS TP.HCM (1); - Sở Tư pháp TP.HCM (1); - Công an TP.HCM (1); - Trại tạm giam Công an TP.HCM (2); - Lưu VP(3), HS(2). 15b.TVN. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Thủy |