vanban.org

Bản án 551/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền nợ gốc: 9.050.385 (chín triệu không trăm năm mươi nghìn ba trăm tám mươi năm) đồng. Trường hợp bà Nguyễn Thị Hồng P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Thanh V phải cho nghĩa vụ trả nợ thay bà P số tiền bà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bà Nguyễn Thị Hồng P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 551/2022/DSST
Ngày 29 tháng 9 năm 2022
V/v Tranh chấp về hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Sơn Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Sơn

2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành ph Hồ Ch Minh: Ông Đào Văn Tiền – Kiểm sát viên

Trong ngày 29/9/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 333/2021/TLST-DS ngày 01/12/2021 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 442/2022/QĐXXST-DS ngày 22/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 521/2022/QĐST-DS ngày 09/9/2022 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (Ngân hàng Đ).

Địa ch : Số 130 Đường P, Phường 3, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ng i đ i di n theo ủy quy n của nguyên đơn: Bà Liêu Thanh H, sinh năm 1989; địa ch : Số 1376 T nh lộ T, Ấp 12, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng P, sinh năm 1985;

Ng i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Thanh V, sinh năm 1997;

Cùng địa ch : Tổ 6, Ấp 5, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Cùng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi ki n ngày 16/3/2021, của nguyên đơn Ngân hàng Đ, những tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và t i phiên tòa, bà Liêu Thanh H là ng i đ i di n theo ủy quy n của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Đ cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Hồng P theo Giấy đăng ký vay tiên trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 25/7/2014 và Giấy đề nghị chi vay góp qua tài khoản thẻ đợt vay 0135176901T14001 ngày 11/08/2014 như sau: Tổng hạn mức cấp tín dụng: 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng; lãi suất: 9,00%/năm; thời hạn vay: 12 tháng; mục đích vay: Buôn bán nhỏ. Bà P cam kết thanh toán vốn và lãi đúng hạn theo quy định của Ngân hàng Đ.

Thực hiện hợp đồng, từ ngày 11/8/2014 đến ngày 05/3/2015, bà P đã trả được tổng số tiền: Vốn: 5.949.615 đồng; lãi trong hạn: 865.385 đồng; tổng cộng: 6.815.000 đồng. Do bà P thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đúng thời hạn, liên tục chậm thanh toán dù Ngân hàng Đ đã nhiều lần gọi điện, đến gặp trực tiếp và gửi thư nhắc nợ. Tính đến ngày 16/3/2021, bà P còn nợ các khoản sau: Vốn: 9.050.385 đồng; lãi trong hạn: 484.615 đồng; lãi quá hạn: 7.749.831 đồng; tổng cộng: 17.284.831 đồng.

Bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và không hợp tác trong việc giải quyết số nợ nêu trên gây thiệt hại cho Ngân hàng Đ. Do đó, Ngân hàng Đ yêu cầu Tòa án buộc bà P phải trả ngay số tiền nợ gốc là 9.050.385 đồng. Đối với số tiền lãi, Ngân hàng Đ rút yêu cầu không yêu cầu bà P chịu lãi. Trường hợp, bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Thanh V là người bảo lãnh cho khoản vay phải có nghĩa vụ trả nợ thay cho bà P.

Bị đơn, ng i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt từ khi thụ lý đến phiên tòa sơ thẩm mặc dù đ ợc Tòa án tri u tập hợp l , không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi ki n của phía nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định, trừ việc Tòa án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vi phạm này không nghiêm trọng, không ảnh hưởng đến bản chất, nội dung vụ án nên kiến nghị Tòa án rút kinh nghiệm.

- Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa xác định việc cấp tín dụng giữa Ngân hàng Đ với bà Nguyễn Thị Hồng P theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 25/7/2014 là có thật, tự nguyện, hợp pháp. Tuy nhiên sau khi vay tiền, bà P không trả nợ cho ngân hàng đúng theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ về việc yêu cầu Tòa án buộc bà P có trách nhiệm trả nợ gốc là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình ch giải quyết phần yêu cầu tính lãi nguyên đơn đã rút.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp là “Cấp tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Luật Các tổ chức tín dụng) thuộc trường hợp “Tranh chấp về hợp đồng dân sự” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng P cư trú tại Ấp 5, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà P, ông V.

[4] Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử ch xem xét các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ, Hội đồng xét xử xét thấy Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 25/7/2014 được giao kết giữa Ngân hàng Đ với bà Nguyễn Thị Hồng P trên cơ sở tự nguyện. Việc bà P không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng Đ yêu cầu bà P trả số tiền nợ gốc 9.050.385 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Ông Trần Thanh V là người bảo lãnh cho khoản vay tại Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 25/7/2014, do đó trường hợp bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Đ thì ông V phải có nghĩa vụ trả nợ thay theo quy định tại Điều 369 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Về lãi: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng Đ rút yêu cầu tính lãi. Xét thấy việc rút yêu cầu này của Ngân hàng Đ là tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình ch xét xử đối với phần yêu cầu này.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 68, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 361, Điều 369, Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.

Buộc bà Nguyễn Thị Hồng P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền nợ gốc: 9.050.385 (chín triệu không trăm năm mươi nghìn ba trăm tám mươi năm) đồng.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Hồng P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Trần Thanh V phải cho nghĩa vụ trả nợ thay bà P số tiền bà P còn thiếu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ theo thỏa thuận trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 25/7/2014.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà P còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 25/7/2014.

2. Đình ch giải quyết yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ về việc buộc bà Nguyễn Thị Hồng P phải trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc: 9.050.385 (chín triệu không trăm năm mươi nghìn ba trăm tám mươi năm) đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Hồng P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 452.519 (bốn trăm năm mươi hai ngàn năm trăm mười chín) đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 432.121 (bốn trăm ba mươi hai nghìn một trăm hai mươi mốt) đồng theo biên lai số AA/2021/0043402 ngày 01/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

4. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ