vanban.org

Bản án 550/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/07/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bà Dương Thị Ánh Ng phải có trách nhiệm trả cho ông Lý Sau M số tiền là 480.000.000 (bốn trăm tám mươi triệu) đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 550/2018/DS-ST
Ngày: 27/7/2018.
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Tiên

2/ Bà Nịnh Thị Tuyết Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà, cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2018/TLST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2018/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 169/2018/QĐST-DS ngày 06/7/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lý Sau M , 1973;

HKTT: A, Cư xá Phú B, Lạc Long Q, phường 5, phường 11, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Vũ Hoàng V, 1995; (Theo Hợp đồng ủy quyền số 001177 ngày 11/01/2018 tại Văn phòng công chứng Tân Phú).

Trú tại: A, Nguyễn Thái B, phường 12, quận Tân B, Thành Phố Hồ Chí Minh – có mặt.

- Bị đơn: Bà Dương Thị Ánh Ng , 1984.

HKTT: A, tổ 8, khu phố 2, phường Tân Hưng Th , quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết, vào ngày 25/8/2017 ông Lý Sau M có cho bà Dương Thị Ánh Ng vay 450.000.000 đồng không lãi xuất, hẹn đến tháng 10/2017 sẽ hoàn trả. Tuy nhiên khi đến hẹn thì bà Ng không chịu trả tiền mà còn có ý định lẩn trốn.

Vì vậy, ông Lý Sau M khởi kiện bà Dương Thị Ánh Ng ra tòa án, yêu cầu bà Ng thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền gốc 450.000.000 đồng,

Ngày 21/4/2018, nguyên đơn có đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung, yêu cầu tính lãi 450.000.000 x 10%/năm x 8 tháng (tạm tính từ tháng 11/2017 đến tháng 6/2018) = 30.000.000 đồng.

Tổng cộng bà Dương Thị Ánh Ng phải trả cho ông Lý Sau M là 480.000.000 đồng.

Số tiền của ông M cho bà Ng vay, đây là tiền riêng của ông M và ông M chỉ cho mình bà Dương Thị Ánh Ng vay, bà Ng phải chịu trách nhiệm trả nợ, không liên quan đến người khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà Dương Thị Ánh Ng nhưng bà Ng vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản đến Tòa để thể hiện ý kiến của mình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án, Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, Hội đồng xét xử nhận định:

1/ Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản giữa hai bên theo Giấy vay tiền ký kết 25/8/2017. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn theo quy định tại Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bà Dương Thị Ánh Ng vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Ng theo quy định tại Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

3/ Về các yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được;

Căn cứ vào Giấy vay tiền ký kết ngày 25/8/2017 có đủ cơ sở để xác định:

Ông Lý Sao M có cho bà Dương Thị Ánh Ng vay 450.000.000 đồng vào ngày 25/8/2017. Việc vay tiền hai bên tự nguyện xác lập bằng văn bản và cùng ký tên, bà Ng cam kết trả nợ cho ông M vào tháng 10/2017. Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ, bà Ng đã không thực hiện theo cam kết.

Trong suốt thời gian giải quyết vụ án, Tòa án có triệu tập bị đơn bà Dương Thị Ánh Ng nhưng bị đơn vẫn không lên Tòa để trình bày ý kiến, việc này có thể coi như là bà Ng đã tự từ bỏ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo quy định tại Điều 91; Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những lời khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chứng cứ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xác minh: Theo xác nhận của Công an phường Tân Hưng Th ngày 23/01/2018 và ngày 01/6/2018 “đương sự Dương Thị Ánh Ng , sinh năm 1984. Có hộ khẩu thường trú tại: a, tổ 8, khu phố 2, phường Tân Hưng Th , quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh. Tháng 10/2017, đương sự Ng không còn cư ngụ tại địa phương, đi đâu không rõ”.

Căn cứ vào quy định điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà không báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành giải quyết theo thủ tục chung”.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay tài sản giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Căn cứ vào Giấy vay tiền ký kết ngày 25/8/2017 có chữ ký của cả hai bên thì về hình thức và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được thể hiện đúng theo quy định tại các Điều 122, 124 Bộ luật dân sự 2005 quy định tại thời điểm hai bên xác lập quan hệ vay tài sản như giữa hai bên đã có xác lập hợp đồng vay tài sản bằng văn bản, ông Lý Sau M và bà Dương Thị Ánh Ng cùng là những người có năng lực hành vi dân sự…

Do bên bị đơn vi phạm hợp đồng không trả tiền theo hợp đồng thỏa thuận cho nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện bị đơn là đúng với quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại toàn bộ số tiền nợ gốc đã vay của nguyên đơn là 450.000.000 đồng.

Về yêu cầu tính tiền lãi: Theo Giấy vay tiền ký kết ngày 25/8/2017 không ghi lãi suất cho vay, chỉ hẹn đếng tháng 10/2017 hoàn trả số tiền. Nguyên đơn yêu cầu tính lãi 450.000.000đ x 10%/năm x 8 tháng (tạm tính từ tháng 11/2017 đến tháng 6/2018) = 30.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu trên là phù hợp và không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi: 30.000.000 đồng

Từ những phân tích trên,

Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền nợ gốc và tiền lãi là 480.000.000 đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí:

Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự là 23.200.000 đồng.

Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 11.000.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí nêu trên ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 48, 49, 147, 192; 217; 227, 228, 235, 264, 266, 267; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 122; 124; 476 Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ vào các Điều 119, 217; 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Buộc bà Dương Thị Ánh Ng phải có trách nhiệm trả cho ông Lý Sau M số tiền là 480.000.000 (bốn trăm tám mươi triệu) đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa giao trả hết số tiền nêu trên, thì bị đơn còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí:

Buộc bà Dương Thị Ánh Ng phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự là 23.200.000 đồng.

Trả cho nguyên đơn ông Lý Sau M số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo đơn khởi kiện là 11.000.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035686 ngày 08/02/2018 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ