- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ly Chừ P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ly Chừ P (không có tên gọi khác) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2025/HS-ST Ngày 21/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Hưng
Ông Bùi Như Lữ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: Ông Thào A Sùng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ly Chừ P (không có tên gọi khác), sinh năm 1965, tại xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản D, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ly Khu L, sinh năm 1917 và bà Hờ Thị S (đã chết); Vợ Lầu Thị C (đã chết); bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/01/2025 đến ngày 26/01/2025 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người phiên dịch cho bị cáo: chị Vàng Thị X, sinh năm 1988, địa chỉ: tổ 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 23/01/2025, Ly Chừ P một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, không có biển kiểm soát đi từ nhà đến khu vực nương thuộc bản P, xã P, huyện Đ để tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, P gặp và mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi, không quen biết với giá 300.000 đồng. Mua được Heroine, P cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe máy đi về nhà. Hồi 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi P về đến bản D, xã N, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an xã N phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ khi bị bắt quả tang gồm: 01 gói chất bột màu trắng đục được gói bằng mảnh nilon màu trắng nghi là Heroine; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, không có biển kiểm soát; 01 chiếc điện thoại cảm ứng loại ZTE Blade A55, bên trong có 01 thẻ sim số 0819776826.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng, cân khối lượng, lấy mẫu giám định và Kết luận giám định số 129/KL-KTHS ngày 25/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: số chất bột trắng đục thu giữ của Ly Chừ P ó khối lượng 0,87 gam là chất ma túy, loại Heroine. Hoàn lại 0,58 gam Heroine sau giám định.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được hành vi của người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo do không có thông tin cụ thể.
Bản cáo trạng số: 32/CT-VKSĐBĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Ly Chừ P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ly Chừ P cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ly Chừ P từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 0,58 gam Heroine còn lại sau giám định và 01 mảnh nilon màu trắng; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX không có biển kiểm soát, số khung RLHJA3815GY152903, số máy JA38E0330295; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng loại ZTE Blade A55, bên trong có 01 thẻ sim số 0819776826. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Ly Chừ P thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo Ly Chừ P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/01/2025; Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Vào ngày 23/01/2025 bị cáo Ly Chừ P có hành vi cất giấu 0,87 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Bản thân bị cáo Ly Chừ P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại chất ma túy đối với sức khỏe con người và sự nghiêm cấm của pháp luật nhưng vẫn cố ý mua tàng trữ để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c. Heroine,Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Hành vi mua tàng trữ 0,87 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Ly Chừ P là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; bố đẻ của bị cáo là ông Ly Khu L(đã chết) được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bản thân bị cáo chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm nào, nhưng đua đòi bạn bè dẫn đến nghiện ma túy, từ nghiện dẫn đến mua tàng trữ sử dụng nên phạm tội như ngày hôm nay.
. Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo mong rằng bị cáo sẽ cải tạo tốt trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có tài sản gì có giá trị, là đối tượng nghiện chất ma túy không có điều kiện để thi hành án. Cho nên, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng vụ án như sau:
Đối với 0,87 gam Heroine, đã giám định hết 0,29 gam, vật chứng hoàn lại 0,58 gam là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ.
Đối với 01 mảnh nilon màu trắng dùng để gói chất ma túy là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen đỏ không có biển kiểm soát, số khung RLHJA3815GY152903, số máy JA38E0330295, xe cũ đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng loại ZTE Blade A55, bên trong có 01 thẻ sim số 0819776826, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc Mông sinh sống tại xã Nong U là xã có kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, do không có thông tin tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Ly Chừ P (không có tên gọi khác) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Ly Chừ P 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 23/01/2025).
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, Điểm c Khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, tiêu hủy 0,58 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen đỏ không có biển kiểm soát, số khung RLHJA3815GY152903, số máy JA38E0330295, xe cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Ly Chừ P 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng loại ZTE Blade A55, số IMEL 1: 863919075726940/01; IMEL 2: 863919075726957/01; bên trong có 01 thẻ sim số 0819776826. Điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Vật chứng trên được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 11 giờ 10 phút ngày 26/4/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Điện Biên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ly Chừ P.
4. Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 21/5/2025./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Phân trại tạm giam khu vực Đ; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an A tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |