- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HS-ST Ngày: 07-9-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung
Bà Hoàng Thị Kim Quy
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Binh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2023/TLST – HS ngày 11/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2023/QĐXXST-HS ngày 28/8/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam, sinh năm 1998 tại tỉnh L; Nơi cư trú: Bản N 2, xã N, huyện S, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lù Văn M, sinh năm 1976 và bà Lù Thị A, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/6/2023 đến ngày 16/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 07/6/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đông Phong, thành phố L đang làm nhiệm vụ tại tổ 26, phường Đông Phong, thành phố L thì phát hiện Lù Văn T đang đi bộ trên đường dân sinh thuộc tổ 26, phường Đông Phong có biểu hiện nghi vấn phạm tội nên đã yêu cầu kiểm tra. Kết quả, T tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái ra 01 gói được gói, bên ngoài bằng 02 lớp, lớp ngoài cùng là 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình bông hoa màu vàng xanh, lớp tiếp theo là 01 mảnh nilon màu hồng, bên trong cùng là chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận vật chứng giao nộp trên là Heroine của T tàng trữ để sử dụng.
Về nguồn gốc số Heroine trên, Lù Văn T khai nhận: Ngày 03/6/2023, T đi xe khách từ bản N 2, xã N, huyện S, tỉnh L đến thành phố L, tỉnh L để tìm việc làm thuê. Khoảng 14 giờ ngày 07/6/2023, T lên cơn nghiên ma tuý nên một mình đi bộ theo đường 58m, hướng từ tổ 26, phường Đông Phong, thành phố L đến xã San Thàng, thành phố L để tìm mua Heroine sử dụng. Khi T đi đến gần cửa hàng xăng dầu thuộc phường Đông Phong thì gặp một người đàn ông lạ mặt (không rõ nhân thân lai lịch) và đã hỏi mua Heroine với người này. Qua trao đổi mua bán, T mua được của người đó 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 02 lớp, lớp ngoài cùng là 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình bông hoa màu vàng xanh, lớp bên trong là 01 mảnh nilon màu hồng với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, T cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi đi về tổ 26, phường Đông Phong tìm chỗ để sử dụng ma túy. Hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày 07/6/2023, khi T đang đi trên đường dân sinh thuộc Tổ 26, phường Đông Phong thì bị tổ công tác Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 43/KLGĐ ngày 07/6/2023 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 696/KL-KTHS ngày 08/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn T trong quá trình bắt qủa tang ngày 07/6/2023 có khối lượng là 0,16 gam. Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ: 0,16 gam Heroine thu giữ của Lù Văn T đã gửi toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu vật. Còn lại 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình bông hoa màu vàng xanh và 01 mảnh nilon màu hồng. Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, chờ xử lý.
Cáo trạng số 46/CT- VKSTP, ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Lù Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lù Văn T mức án từ 13 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình bông hoa màu vàng xanh và 01 mảnh nilon màu hồng. Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định thu giữ của Lù Văn T, trong quá trình bắt quả tang ngày 07/6/2023.
Tại phiên tòa bị cáo Lù Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 20 phút ngày 07/6/2023, tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ 26, phường Đông Phong, thành phố L, tỉnh L, tổ công tác Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đông Phong, thành phố L đã phát hiện, bắt quả tang Lù Văn T đang tàng trữ trái phép 0,16 gam Heroine để sử dụng. Bị cáo Lù Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường và làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- 0,16 gam Heroine thu giữ của Lù Văn T đã gửi toàn bộ đi giám định tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, không hoàn lại mẫu vật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình bông hoa màu vàng xanh và 01 mảnh nilon màu hồng. Xét đây là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Trong vụ án này:
Trong vụ án này: Theo lời khai của bị cáo Lù Văn T thì nguồn gốc 0,16 gam Heroine bị thu giữ là T mua của một người đàn ông tại khu vực phường Đông Phong, thành phố L, tỉnh L nhưng T không rõ nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lù Văn T thuộc hộ nghèo của xã. Vì vậy, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và đề nghị của bị cáo. Do đó, Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lù Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy một phong bì công văn của Công an thành phố L, bên trong có: 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình bông hoa màu vàng xanh và 01 mảnh nilon màu hồng. Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định thu giữ của Lù Văn T, trong quá trình bắt quả tang ngày 07/6/2023.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 09 giờ 10 phút ngày 21/8/2023, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn T.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh L;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh L;
- Công an TP L;
- VKSND TP L;
- Chi cục THADS TP L;
- Sở Tư pháp tỉnh L;
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
Phạm Thị Nga
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Nga
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND tỉnh L; - Công an TP L; - VKSND TP L; - Chi cục THADS TP L; - Sở Tư pháp tỉnh L; - Bị cáo; - Lưu HSVA. từ ngày tuyên án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Nga Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Nga |