- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H sử dụng ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2026/HS-ST. Ngày: 06-8-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - TỈNH LÂM ĐỒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huyền.
+ Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Hoàng Bích Loan và ông Phan Hoài Bảo.
-Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha – Thư ký TAND khu vực 14 -Lâm Đồng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Điền – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2026/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:
Phạm Văn H, sinh ngày 20/11/1993 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn L, xã P, tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn L, xã P, tỉnh Lâm Đồng); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ, sinh năm: 1963 và mẹ: Lê Thị V, sinh năm 1961; vợ, con: chưa có.
Tiền án: không; tiền sự: 01, Ngày 25/10/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong (nay là Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng) ra Quyết định số 141/2023/QĐ- TA quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 15/8/2024; Nhân thân: Không
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 29/5/2026, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tuy Phong (cơ sở 1), Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 16/8/2024 của UBND xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận (nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng) với thời gian quản lý từ ngày 16/8/2024 đến ngày 16/8/2026. Vào khoảng 06 giờ ngày 25/3/2026 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đi bộ từ nhà H ở thôn L, xã P đến khu vực bờ kè biển thuộc thôn M, xã P gặp 01 người thanh niên (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 01 tép Heroine với giá 90.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu trong người đưa về nhà của H và đi vào nhà vệ sinh sử dụng hết ma túy. Đến khoảng khoảng 08 giờ ngày 27/03/2026, Công an xã P, tỉnh Lâm Đồng thực hiện công tác quản lý các đối tượng về ma túy trên địa bàn xã P nên tiến hành mời Phạm Văn H là đối tượng nằm trong diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú về trụ sở để xét nghiệm chất ma túy định kỳ theo quy định. Sau khi mời đối đượng H về trụ sở thì Công an xã P tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể H phát hiện kết quả dương tính với ma túy loại Heroin. Tiến hành đưa Phạm Văn H đi xét nghiệm chất ma túy tại Khoa Tư vấn và Điều trị nghiện chất (xã P) thuộc Trung tâm y tế khu vực T, tỉnh Lâm Đồng kết quả H dương tính với ma túy loại Morphine. Công an xã P đã thành lập Hội đồng thu mẫu vật, thu giữ dung dịch nước tiểu của Phạm Văn H chứa trong 01 hủ nữa trong suốt đậy nắp màu đỏ, kích thước khoảng: chiều cao 08cm, đường kính 4,5cm, bên trong ống nhựa chứa chất lỏng màu vàng là nước tiểu của H để tiến hành giám định.
Tại bản Kết luận giám định Số: 983/KL-KTHS ngày 03/4/2026, của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Tìm thấy chất ma túy Morphine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính Phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất trong mẫu nước tiểu được gửi giám định. Lời khai của Phạm Văn H phù hợp với biên bản sự việc, phù hợp với biên bản thu giữ các tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy có đủ cơ sở xác định: Phạm Văn H là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú nhưng vẫn tiếp tục sử dụng Heroine thì bị phát hiện.
Phạm Văn H thừa nhận toàn bộ sự việc.
Về tang, vật chứng của vụ án: không thu giữ.
Tại Bản Cáo trạng số 38/CT-VKSLDG-KV, ngày 20 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Lâm Đồng đã truy tố Phạm Văn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi năm 2025);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); xử phạt Phạm Văn H từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Bị cáo Phạm Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã làm rõ: Bị cáo Phạm Văn H là đối tượng nghiện ma tuý và thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại địa phương theo Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 16/8/2024 của UBND xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận (nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng) với thời gian quản lý 02 năm từ ngày 16/8/2024 đến ngày 16/8/2026. Vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 27/03/2026, thực hiện công tác quản lý các đối tượng về ma tuý trên địa bàn xã P, Công an xã P đưa bị cáo đi xét nghiệm nhanh chất ma tuý theo định kỳ, kết quả bị cáo dương tính với chất ma tuý loại Heroin. Công an xã P tiến hành đưa Phạm Văn H đi xét nghiệm chất ma túy tại Khoa Tư vấn và Điều trị nghiện chất (xã P) thuộc Trung tâm y tế khu vực T, tỉnh Lâm Đồng kết quả H dương tính với ma túy loại Morphine. Công an xã P đã thành lập Hội đồng thu mẫu vật, thu giữ dung dịch nước tiểu của Phạm Văn H để tiến hành giám định.
Tại bản Kết luận giám định Số: 983/KL-KTHS ngày 03/4/2026, của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Tìm thấy chất ma túy Morphine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 của Chính Phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất trong mẫu nước tiểu được gửi giám định.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn H là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết các chất ma túy đều tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người sử dụng, các chất ma tuý đều gây ảo giác và mất nhận thức đối với con người nên Nhà nước kiểm soát và độc quyền quản lý nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng của mình nên đã cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện nhưng không tu dưỡng bản thân mà tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những đã góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, băng hoại đạo đức lối sống, làm khánh kiệt kinh tế gia đình mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương và làm phát sinh các loại tội phạm khác nên cần phải xử lý nghiêm khắc. Vì vậy, với hành vi trên của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục và cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn H không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm nên cần phải xử lý nghiêm khắc
Về tang, vật chứng trong vụ án: Quá trình điều tra vụ án không thu giữ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”;
- Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 29/5/2026.
- Áp dụng: khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/8/2026).
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Lâm Đồng; -VKSND KV 14-Lâm Đồng; -Phòng THADSKV 14 - Lâm Đồng; -Phân trại tạm giam Tuy Phong (CS1); -Bị cáo; -Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa T r ầ n T h ị T h u H u y ề n |