vanban.org

Bản án 55/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Vương phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Nguyễn Văn Vương 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/10/2024. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Vương 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Vương phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày 27 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Xuân - Giáo viên nghỉ hưu;

Ông Nguyễn Bỉnh Thái- Cán bộ hưu.

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Thắng, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm xử kín vụ án hình sự thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Vương, sinh năm 2002;

HKTT: Thôn Tượng Phong, xã Thạch Tượng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn Vần, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Thuỷ, sinh năm 1981; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến nay hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (Có mặt tại phiên tòa).

*Bị hại: Cháu Tạ Thị Ngọc Ánh, sinh ngày 27/5/2009 (Vắng mặt);

Người đại diện theo pháp luật cho cháu Ánh: Chị Vũ Thị Huyền Duyên, sinh năm 1986 (Có mặt);

Cùng HKTT: Thôn Đồng Danh, xã Đức Ninh, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: bà Nguyễn Thị Cúc - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cháu Tạ Thị Ngọc Ánh, được gia đình nuôi ăn học, phát triển bình thường về tâm sinh lý. Khi học đến lớp 8/12 thì Ánh nghỉ học. Đến khoảng đầu tháng 8/2023, thông qua chị họ là Nguyễn Thị Trường An, sinh năm: 2007 là người cùng quê đang làm nhân viên tại các quán hát Karaoke trên địa bàn huyện Tiên Du rủ Ánh xuống làm cùng và ở tại khu nhà trọ ở Đại Sơn, Hoàn Sơn, Tiên Du do anh Nguyễn Thiết Vỹ, sinh năm: 1995 ở thôn Chè, Liên Bão, Tiên Du thuê cho nhân viên ở.

Nguyễn Văn Vương, sinh năm 2002, ở thôn Tượng Phong, xã Thạch Tượng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Đầu năm 2023, Vương đến huyện Tiên Du làm thuê cho anh Nguyễn Thiết Vỹ với nhiệm vụ chở nhân viên nữ đến các quán hát Karaoke trên địa bàn huyện Tiên Du.

Trong quá trình làm, Vương quen biết và nảy sinh tình cảm với Ánh. Đến khoảng cuối tháng 8/2023, cả hai bắt đầu quan hệ tình dục với nhau tại phòng 201 tầng 2 căn nhà Vỹ thuê. Đến khoảng cuối năm 2023, do Vương tự ý nghỉ không xin phép nên Vỹ không thuê Vương nữa. Vương đến thuê trọ tại tầng 2 khu nhà trọ của chị Nguyễn Thị Hà, sinh năm: 1981 ở Đại Sơn, Hoàn Sơn, Tiên Du. Sau đó, Vương rủ Ánh ra ở cùng thì Ánh đồng ý. Tại đây, Ánh và Vương sống với nhau như vợ chồng và tiếp tục quan hệ tình dục nhiều lần với nhau. Vào 21h34 phút ngày 01/02/2024, Ánh và Vương cùng thống nhất sử dụng chiếc điện thoại Iphone 7 Plus của Ánh để quay lại quá trình quan hệ tình dục để làm kỷ niệm. Đến khoảng tháng 3 năm 2024, Vương và Ánh tiếp tục chuyển phòng trọ và đến phòng trọ tầng 3 của khu nhà trọ của anh Nguyễn Công Quý, sinh năm: 1993 ở thôn Đoài, Hoàn Sơn, Tiên Du. Tại đây Ánh và Vương tiếp tục sống chung với nhau như vợ chồng và thường xuyên quan hệ tình dục. Ngày 12/8/2024, Ánh thấy trong người khó chịu, ốm nghén nên đã mua que thử thai về kiểm tra xác định đã có thai nên báo cho Vương biết. Khi biết tin Ánh có thai, Vương nhận trách nhiệm, muốn cưới Ánh và thông báo cho gia đình biết. Tuy nhiên do Ánh không muốn lấy chồng sớm nên Ánh không đồng ý giữ lại thai, Vương nhiều lần khuyên nhủ nhưng không được. Sau đó Ánh liên hệ với chị An để nhờ chở đi phá thai. Ngày 20/8/2024, Ánh cùng chị An đến Phòng khám đa khoa quốc tế Việt Sing, có địa chỉ tại 169 Hoàng Hoa Thám, P. Võ Cường, Tp. Bắc Ninh để làm thủ tục đình chỉ thai (khi vào làm thủ tục khám thì Ánh tự khai sinh năm 2006). Sau khi thực hiện xong việc đình chỉ thai thì Vương lên đón Ánh về và mang phôi thai về phòng trọ. Khi biết tin Ánh đi phá thai, chị Vũ Thị Huyền Duyên, sinh năm: 1986 ở Đồng Danh, Đức Ninh, Hàm Yên, Tuyên Quang (là mẹ đẻ của Ánh) và anh Vũ Trọng Sáng, sinh năm: 1991 (là cậu ruột Ánh) đã đến Công an huyện Tiên Du làm đơn tố giác và bàn giao tổ chức phôi thai của cháu Ánh.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Ánh và Vương, sao lưu đoạn video ghi lại quá trình quan hệ tình dục giữa Ánh và Vương vào ngày 01/02/2024 đồng thời tiến hành thân dẫn, chỉ vị trí các khu nhà trọ mà Vương, Ánh ăn ở cùng nhau và quan hệ tình dục. Quá trình thân dẫn, Vương đã chỉ được vị trí các khu nhà trọ mà Vương và Ánh đã ở và quan hệ tình dục với nhau.

Quá trình điều tra, ngoài quan hệ tình dục với Vương nhiều lần, Ánh còn khai nhận quan hệ với hai người đàn ông không quen biết trong quá trình đi hát với khách tại quán Karaoke.

* Về kết quả giám định:

- Giám định pháp y tình dục của Nguyễn Văn Vương: Tại bản kết luận giám định số: 102/2024/KLNCXH ngày 29/08/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Bắc Ninh kết luận:

Tình dục: Qua quá trình khám giám định và kết quả cận lâm sàng, xác định Nguyễn Văn Vương tại thời điểm giám định có đủ khả năng sinh lý làm cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.

- Xét nghiệm HIV Ag/Ab miễn dịch tự động: Âm tính (Chưa phát hiện nhiễm

HIV); HBsAg miễn dịch tự động: Âm tính (Chưa phát hiện nhiễm viêm gan B).

Thương tích: Vùng đầu, mặt, cổ, ngực, lưng, bụng, bộ phận sinh dục, tầng sinh môn, đùi bẹn không sưng nề, không bầm tím, không trầy xước, không vết rách da, niêm mạc.

Tay, chân không có tổn thương. Không đủ căn cứ khoa học tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Cơ chế: Do không xác định được tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, vì vậy không xác định được cơ chế hình thành tổn thương.

- Giám định pháp y tình dục của Tạ Thị Ngọc Ánh: Tại bản kết luận giám định số: 103/2024/KLTDTE ngày 29/08/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Bắc Ninh kết luận:

Tình dục: Màng trinh: Màng trinh dạng vành khăn, kích thước lỗ màng trinh 2 cm, ở vị trí 2h,5h,9h có tổn thương rách cũ.

- Định lượng bhCG 5370 U/L: Có thai (Đã đình chỉ thai ngày 20/08/2024)

- Xét nghiệm HIV test nhanh: Âm tính (Chưa phát hiện nhiễm HIV); HBsAg: Âm tính (Chưa phát hiện viêm gan B).

- Đối tượng Tạ Thị Ngọc Ánh là nữ giới, khả năng hoạt động sinh lý nữ bình thường theo lứa tuổi.

Thương tích: Vùng đầu, mặt, cổ, miệng, hầu họng, ngực, lưng, bụng, mông, tay, chân, tầng sinh môn âm hộ, môi lớn, môi bé không có tổn thương. Không đủ căn cứ khoa học tính tỷ lệ phần trăm tốn thương cơ thể.

Cơ chế hình thành thương tích: Do không xác định được tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, vì vậy không xác định dược cơ chế hình thành tổn thương.

- Giám định sinh học: Tại bản kết luận giám định số: 6469/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận:

1. Tạ Thị Ngọc Ánh và thai nhi có mẫu gửi giám định có quan hệ huyết thống mẹ đẻ - con đẻ với nhau.

2. Nguyễn Văn Vương và thai nhi có mẫu gửi giám định không có quan hệ huyết thống cha đẻ - con đẻ với nhau.

3. Lưu các kiểu gen phân tích được tại Viện Khoa học hình sự - Bộ công an.

- Giám định kỹ thuật số và điện tử: Tại bản kết luận giám định số: 2263/KL-KTHS ngày 30 tháng 09 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video mẫu cần giám định.

- Hình ảnh hình xăm ở vị trí bụng, rốn và trên cánh tay của người đàn ông xuất hiện trong tệp video mẫu cần giám định giống với hình ảnh hình xăm của Nguyễn Văn Vương trong mẫu so sánh.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định Pháp y tâm thần Tạ Thị Ngọc Ánh kiên quyết từ chối và khẳng định việc quan hệ tình dục là do Ánh có tình cảm, đồng thuận, tự nguyện với Vương. Sau sự việc trên, Ánh vẫn lao động, sinh hoạt bình thường, không ảnh hưởng gì đến sức khỏe.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Du bị cáo Vương đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSTD ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã:

Truy tố bị cáo Vương về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, khoản 2, Điều 145 BLHS.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Vương khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Về TNDS: Bị cáo đồng ý bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 60.000.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du đã truy tố về tội như trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Văn Vương phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, khoản 2, Điều 145 BLHS.

Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn Vương từ 42 tháng tù đến 46 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/10/2024.

Về TNDS: Căn cứ vào điều 48 BLHS; các điều 584; điều 585, điều 590 và điều 592 Bộ luật dân sự.

Công nhận thỏa thuận giữa bị cáo Vương và đại diện bị hại bà Vũ Thị Huyền Duyên về việc: Bị cáo tự nguyện bồi thường tổng số tiền 60.000.000 đồng cho cháu Tạ Thị Ngọc Ánh (người đại diện theo pháp luật là chị Vũ Thị Huyền Duyên).

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện theo pháp luật của cháu Ánh, chị Duyên trình bày: Chị nhất trí với nội dung bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát và lời trình bày của bị cáo tại phiên toà. Chị không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Chị đề nghị về TNHS: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về TNDS: quá trình điều tra chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 70.000.000 đồng, tuy nhiên do bị cáo và cháu Ánh có quan hệ tình cảm nên tại phiên toà chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 60.000.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại bà Cúc trình bày: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng, không tranh luận gì. Về TNHS: đề nghị HĐXX ra bản án với mức hình phạt phù hợp. Về TNDS: Đề nghị Toà án công nhận sự thoả thuận của bị cáo và đại diện gia đình bị hại về việc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 60.000.000 đồng.

Ngoài ra không ai có ý kiến trình bày, tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại cháu Tạ Thị Ngọc Ánh đã được triệu tập hợp lệ tuy nhiên vắng mặt, đã có mặt của người đại diện, việc vắng mặt không ảnh hưởng tới việc xét xử vì vậy HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến trước ngày 12/8/2024, tại 03 phòng trọ các khu nhà trọ của gia đình anh Nguyễn Thiết Vỹ, Phạm Công Quý và chị Nguyễn Thị Hà thuộc địa phận thôn Đoài và thôn Đại Sơn, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, Nguyễn Văn Vương đã nhiều lần giao cấu (quan hệ tình dục) với cháu Tạ Thị Ngọc Ánh, sinh ngày 27/5/2009 (lúc này cháu Ánh mới hơn 14 tuổi 02 tháng và nhỏ hơn 16 tuổi).

Hành vi của bị cáo giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi mặc dù được sự đồng ý của người bị hại, tuy nhiên là là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự và nhân phẩm của trẻ em gái đang trong độ tuổi phát triển chưa trưởng thành, được pháp luật bảo vệ; hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, tâm lý, tinh thần của bị hại gây mất trật tự tại địa phương, tạo dư luận không tốt trên địa bàn.

Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời, xử bị cáo hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhằm bảo vệ sự phát triển bình thường về mặt tình dục và sức khỏe đối với người chưa đủ 16 tuổi.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo Vương là người có nhân thân tốt lần đầu phạm tội tuy nhiên phạm tội rất nghiêm trọng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định điểm s, khoản 1, khoản 2, điều 51 BLHS. Bị cáo đã bị truy tố với tình tiết định khung khoản 2, điều 145 BLHS là phạm tội 2 lần trở lên nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du là phù hợp. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử bị cáo bằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, truy tố, đại diện bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Vương bồi thường tổng số tiền là: 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng chẵn) bao gồm tiền bồi thường sức khoẻ nhân phẩm và tổn hại tinh thần... Tuy nhiên tại phiên tòa chị Duyên chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 60.000.000 đồng. Bị cáo Vương đồng ý với mức bồi thường nêu trên vì vậy: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận về việc bị cáo Vương có trách nhiệm bồi thường tổng số tiền là 60.000.000 đồng cho cháu Ánh (là đại diện gia đình của bị hại là chị Duyên).

Về xử lý vật chứng:

Ngày 08/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) hộp bìa cát tông bên trong có phần còn lại của mẫu ghi tổ chức thai nhi thu của Tạ Thị Ngọc Ánh cho chị Vũ Thị Huyền Duyên, sinh năm: 1986 ở Đồng Danh, Đức Ninh, Hàm Yên, Tuyên Quang (là mẹ đẻ cháu Ánh) là đúng quy định.

Liên quan trong vụ án này còn có:

+ Đối với thai nhi không cùng huyết thống với Vương, quá trình làm việc Ánh trình bày: Trong thời gian yêu Vương khoảng tháng 6/2024, khi đi phục vụ khách hát Karaoke Ánh đã quan hệ tình dục với 02 người khác là khách đến hát tại các quán Karaoke. Ánh không nhớ quan hệ tình dục ở đâu, không biết tên, tuổi, địa chỉ của 02 người này. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để tiến hành xác minh làm rõ.

+ Đối với Công ty TNHH Bệnh viện đa khoa Quốc tế Việt Sing có địa chỉ 169 đường Hoàng Hoa Thám, P. Võ Cường, TP. Bắc Ninh, Bắc Ninh được Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có mã số doanh nghiệp: 2301238546 đăng ký lần đầu: ngày 29 tháng 03 năm 2023 đăng ký thay đổi lần thứ 1, ngày 28 tháng 03 năm 2024. Do bà Nguyễn Thị Như Quỳnh, sinh năm: 1999 ở Khu Trung Thanh, xã Phùng Nguyên, huyện Lâm Thao, Phú Thọ là người đại diện theo pháp luật của công ty. Ngày 01/12/2023 Phòng khám đa khoa Quốc tế Việt Sing được sở y tế Bắc Ninh cấp giấy phép hoạt động khám chữa bệnh theo Quyết định số 945/QĐ-SYT phụ lục phê duyệt phạm vi hoạt động, danh mục kỹ thuật chuyên môn thực hiện tại phòng khám đa khoa Quốc tế Việt sing tại mục E, theo TT43 là 238 “Phá thai từ tuần thứ 6 đến hết 12 tuần bằng phương pháp hút chân không”. Quá trình làm việc bà Quỳnh cho biết ngày 20/8/2024 Phòng khám đa khoa quốc tế Việt Sing có tiếp nhận trường hợp bệnh nhân Tạ Thị Ngọc Ánh đến làm thủ tục phá thai ngoài ý muốn khi đến khai sinh năm: 2006 ở Đức Ninh, Hàm Yên, Tuyên Quang, sau khi làm xong thì được người nhà đưa về, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra thì mới biết Tạ Thị Ngọc Ánh sinh ngày 27/5/2009 ở Đồng Danh, Đức Ninh, Hàm Yên, Tuyên Quang. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, mà đã nhắc nhở Phòng khám là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Vương phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 145; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn Vương 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 09/10/2024.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Vương 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào điều 48 BLHS; các điều 584; điều 585, điều 590 và điều 592 Bộ luật dân sự.

Công nhận thỏa thuận giữa bị cáo Vương và đại diện bị hại bà Vũ Thị Huyền Duyên về việc: Bị cáo tự nguyện bồi thường tổng số tiền 60.000.000 đồng cho cháu Tạ Thị Ngọc Ánh (người đại diện theo pháp luật là chị Vũ Thị Huyền Duyên).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, người phải người thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Căn cứ các Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ