vanban.org

Bản án 55/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Lê Minh T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/08/2024.

Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 gói niêm phong ghi số 2881/24Q8, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lưu Văn T2, hình dấu công an P2, Quận H và các chữ ký ghi tên cán bộ điều tra Lê Hữu T3 và giám định viên Trần Đình H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA 55 25.3 Lê Minh T 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Lê Minh T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/08/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HS-ST
Ngày: 25/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Ngọc Mạnh.

2. Bà Trần Thị Ngọc Hà.

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 06/02/2025 , theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 đối với bị cáo:

Lê Minh T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 17/01/1990; tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 7 C, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Người dẫn chương trình; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Minh T1 và bà Huỳnh Thị Ngọc P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 08/11/2023, Công an P1, quận G xử phạt hành chính số tiền 1.900.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Ngày 01/12/2023, đã đóng tiền phạt trên. Ngày 28/12/2023, Ủy ban nhân dân Phường F, quận T có Quyết định số 383/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là 01 năm, kể từ ngày 28/12/2023.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/8/2024. (bị cáo có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lưu Văn T2, sinh năm 1989, địa chỉ: F D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 23 giờ 45 phút, ngày 06/8/2024, Tổ công tác Công an P2, Quận H tiến hành kiểm tra hành chính phòng số 304 thuộc khách sạn “Trung Nam” (địa chỉ: F D, Phường A, Quận H) do ông Lưu Văn T2 là đại diện cơ sở kinh doanh, có mặt chứng kiến. Tại thời điểm kiểm tra, Tổ công tác ghi nhận cửa phòng số 304 không khóa, bên trong phòng không có người, qua đối chiếu sổ sách của khách sạn “Trung Nam” được biết người thuê phòng là Lê Minh T nên Tổ công tác tiến hành kiểm tra phòng số 304 phát hiện: trên bàn gỗ có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh; trên nệm ngủ có 01 túi vải ghi chữ BALENCIAGA màu đen, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh và 01 quẹt lửa. Sau đó, Tổ công tác lập biên bản ghi nhận lại sự việc và thu giữ những đồ vật trên. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 07/8/2024, qua truy xét, Công an P2, Quận H phát hiện T đang đứng trước chung cư E V, phường C, Quận A để chờ nhận quần áo từ người thân gửi nên lực lượng Công an mời T về trụ sở làm việc. Sau đó, Công an P2, Quận H đã phối hợp Trạm y tế P3, Quận H tiến hành xét nghiệm ma túy đối với T, kết quả: Tuân dương tính với ma túy Methamphetamine. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 07/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 3423/QĐ và ngày 15/8/2024, Phòng K Công an Thành phố H có Bản kết luận giám định số 9420/KL-KTHS, kết luận: 01 gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu văn T2 (người chứng kiến) và hình dấu Công an P2, Quận H, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể (Ký hiệu mẫu m). Qua giám định có khối lượng m = 3,8593 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Minh T khai nhận như sau:

- Vào khoảng 09 giờ 20 phút, ngày 06/8/2024, T thông qua ứng dụng mạng xã hội Grindr (mạng xã hội của những người đồng tính, T là thành viên của mạng xã hội này) đặt mua 01 gói ma túy đá của một người đàn ông tên Lê Văn N (chưa rõ lai lịch) với số tiền 3.000.000 đồng. Tuân đặt cọc 530.000 đồng và thanh toán cho N bằng hình thức chuyển khoản qua ứng dụng ví điện tử M vào số tài khoản 0937759685 mang tên Lê Văn N. T và N thỏa thuận khi nào T cung cấp địa chỉ thì N sẽ giao ma túy cho T.

- Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06/8/2024, T đón xe ôm công nghệ G đi một mình đến khách sạn “Trung Nam” (địa chỉ: F D, Phường A, Quận H) làm thủ tục thuê phòng số 304 để sử dụng ma túy. Sau khi thuê phòng, T thông qua ứng dụng xã hội Grindr nhắn tin cho N địa chỉ giao hàng ma túy đá tại trước khách sạn “Trung Nam”. Khoảng 30 phút thì có một nam thanh niên shipper (chưa rõ lai lịch) của ứng dụng “Be” đến giao ma túy cho T tại trước cửa khách sạn. Sau khi nhận được gói hàng trên, T mang lên phòng số 304 và mở ra thấy bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể (ma túy đá) và 05 túi mặt nạ dưỡng da. Lúc này, T lấy ra 02 bình dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh mà T đã chuẩn bị từ trước để sử dụng bằng hình thức hút. Sau khi T sử dụng được một vài lần thì T nằm nghỉ tại phòng số 304. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, T đi xuống trước khách sạn để nhận giao hàng trái cây. Lúc này, T thấy Công an P2, Quận H đang tiến hành kiểm tra hành chính khách sạn, sợ bị phát hiện nên T đã đặt xe ôm công nghệ G bỏ đi khỏi hiện trường.

- Đến khoảng 15 giờ 22 phút, ngày 07/8/2024, thông qua ví điện tử M, T đã chuyển khoản cho Lê Văn N tổng số tiền 4.735.000 đồng để thanh toán số tiền mua ma túy mà T còn thiếu N trước đó (trong đó có 2.500.000 đồng là tiền T thiếu Ngợi do mua ma túy của N vào ngày 06/8/2024 và 2.235.000 đồng là tiền T thiếu N do mua ma túy của Ngợi lần đầu tiên vào khoảng tháng 7/2024). Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 07/8/2024, khi T đang đứng trước chung cư E V, phường C, Quận A để chờ nhận quần áo do người thân gửi thì bị Công an P2, Quận H kiểm tra và mời về trụ sở làm việc.

Tại cáo trạng số 30/CT-VKS-Q8 ngày 04/2/2025 đã truy tố bị cáo như sau:

Truy tố bị cáo Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngoài ra cáo trạng còn xác định:

Đối với đối tượng Lê Văn N đã có hành vi bán ma túy cho bị can Lê Minh T. Quá trình điều tra xác định N không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra Quyết định tách vụ án hình sự số 142/QĐ-CQCSĐT ngày 08/01/2025 để tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của N và sẽ xử lý sau.

Đối với anh Lưu Văn T2 là chủ sở hữu khách sạn “Trung Nam” không biết sự việc T sử dụng ma túy tại phòng thuê trên nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.

Tại phiên tòa hôm nay:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm luận tội như sau: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo như sau:

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt:

Lê Minh T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.

+ Xử lý các vật chứng khác theo quy định pháp luật.

Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo để bị cáo sớm trở về chăm lo cho cha mẹ già đã lớn tuổi.

Quá trình tranh luận, đối đáp, đại diện Viện kiểm sát cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không phát sinh tình tiết nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ áp dụng pháp luật: Bộ luật Hình sự áp dụng trong vụ án này là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với nguyên tắc xử lý nghiêm trị đối với người chủ mưu, cầm đầu; Khoan hồng với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra theo quy định tại Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lượng ma túy thu giữ, hồ sơ đăng ký cư trú tại khách sạn, lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình tố tụng. Trên cơ sở xem xét đánh giá công khai các chứng cứ một cách đầy đủ và toàn diện nhất, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Vào ngày 06/8/2024, bị cáo Lê Minh T đã có hành vi thuê phòng số 304 khách sạn “Trung Nam” (địa chỉ: F D, Phường A, Quận H) để cất giữ 3,8593g ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Từ các cơ sở trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Lê Minh T đã phạm tội vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Theo đó, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Tội phạm do bị cáo gây ra không những xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Hội đồng xét xử xét bị cáo phạm tội không thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đang bị bệnh HIV, có nhiều bệnh nền, trong quá trình làm việc bị cáo có tham gia hoạt động xã hội, thiện nguyện tại địa phương, bị cáo còn có cha mẹ già đã lớn tuổi cần phụng dưỡng nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Các nhận định trên cũng là nhận định của Hội đồng xét xử để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát cũng như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

+ Đối với số ma túy thu giữ, 01 cái quẹt lửa, 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh là dụng cụ của Lê Minh T dùng để sử dụng ma túy của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 túi vải màu đen ghi chữ BALENCIAGA, 01 điện thoại di động Iphone Promax 13, số IMEI: 352206208424140, IMEI 2: 352206208453818 gắn sim số 0908555988, Hội đồng xét xử xét là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

+ Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Lê Minh T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Lê Minh T 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 12/08/2024.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy đối với:

+ 01 gói niêm phong ghi số 2881/24Q8, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lưu Văn T2, hình dấu công an P2, Quận H và các chữ ký ghi tên cán bộ điều tra Lê Hữu T3 và giám định viên Trần Đình H.

+ 01 quẹt lửa.

+ 02 bình dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 túi vải màu đen ghi chữ BALENCIAGA, 01 điện thoại di động Iphone Promax 13, gắn sim số 0908555988 số IMEI: 352206208424140, IMEI 2: 352206208453818.

Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Lê Minh T.

(Theo Biên bản giao - nhận tang tài vật ngày 17/2/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8).

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 26/03/2025; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ