vanban.org

Bản án 55/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Hà T đối với ông Phạm Hữu T1 về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Hà T được ly hôn với ông Phạm Hữu T1 (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 163 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/12/2022). 2. Về con chung: Ông Phạm Hữu T1 giao con chung tên Phạm Linh Đ, sinh ngày 09/10/2023 cho bà Lâm Hà T trực ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lâm Hà T và ông Phạm Hữu T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Hà T đối với ông Phạm Hữu T1 về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28-3-2025
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hải Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Văn Cường;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 591/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lâm Hà T, sinh năm 1999; HKTT: Căn hộ F Tầng G chung cư B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: Tổ A, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phạm Hữu T1, sinh năm 1999; HKTT: Ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Địa chỉ tạm trú: Số B đường Đ, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn bà T vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông T1 vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 26/11/2024, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Lâm Hà T trình bày:

Bà T và ông Phạm Hữu T1 chung sống với nhau từ năm 2022, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 163 ngày 07/12/2022.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà T xác định tình cảm giữa bà T và ông T1 không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hữu T1.

Quá trình chung sống bà T và ông T1 có 01 con chung tên Phạm Linh Đ, sinh ngày 09/10/2023. Sau khi ly hôn, bà T nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 09/10/2023. Bà T không yêu cầu ông Phạm Hữu T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà T không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ngoài ra, bà T không có yêu cầu khác, không cung cấp chứng cứ gì thêm.

* Đối với bị đơn ông Phạm Hữu T1: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để yêu cầu ông Phạm Hữu T1 cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 07/02/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa vào ngày 07/3/2025 và ngày 28/3/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Quá trình xác minh, bị đơn ông T1 có đăng ký tạm trú tại số B đường Đ, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 do Tòa án tiến hành ngày 11/12/2024, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau:

Quá trình Bà Lâm Hà T và ông Phạm Hữu T1 sinh sống tại địa phương chính quyền không nhận được đơn thư hay trình báo gì về việc bà T và ông T1 có xảy ra mâu thuẫn trong gia đình. Nên chính quyền địa phương không biết được mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông T1 là gì cũng như công việc, thu nhập của họ nên không cung cấp thông tin được cho Tòa án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Hà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn Bà Lâm Hà T khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Phạm Hữu T1, sinh năm 1999 có nơi cư trú tại số B đường Đ, khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

[1.2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lâm Hà Thanh vắng M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phạm Hữu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 07/3/2025 và ngày 28/3/2025 nhưng đều vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lâm Hà T và ông Phạm Hữu T1 chung sống với nhau từ năm 2022, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 163 ngày 07/12/2022. Như vậy, hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Bà T trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà T xác định tình cảm giữa bà T và ông T1 không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hữu T1.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã tiến hành triệu tập nguyên đơn, bị đơn đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không có mặt theo triệu tập của Tòa án.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải quan tâm, quý trọng, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Từ việc nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không tham gia hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân đã thể hiện bà T và ông T1 không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với nhau; hai bên cũng không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng để xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân của bà T và ông T1 đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông T1 có 01 con chung tên Phạm Linh Đ, sinh ngày 09/10/2023. Sau khi ly hôn, bà T nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 09/10/2023. Bà T không yêu cầu ông Phạm Hữu T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về vấn đề này cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến gì. Tòa án cũng đã có Thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ số 591/TB-TA ngày 06/12/2024 yêu cầu bà T và ông T1 cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, nghề nghiệp, nơi ở, nơi làm việc, thu nhập của mỗi người. Tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.

Xét thấy, cháu Phạm Linh Đ, sinh ngày 09/10/2023 là nữ giới, hiện nay mới 17 tháng tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Nguyên đơn bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 40, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Hà T đối với ông Phạm Hữu T1 về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Hà T được ly hôn với ông Phạm Hữu T1 (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 163 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/12/2022).

1.2. Về con chung: Ông Phạm Hữu T1 giao con chung tên Phạm Linh Đ, sinh ngày 09/10/2023 cho bà Lâm Hà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lâm Hà T về việc không yêu cầu ông Phạm Hữu T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Lâm Hà T và ông Phạm Hữu T1 đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Lâm Hà T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm mà bà T đã nộp theo biên lai thu số 0001979 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ