- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh L- Phan Hòa Ph "ly hôn""
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Lê Trung T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-TÂY NINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24-12-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Ngọc Minh.
2. Bà Mai Thị Bỉ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đan Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 171A/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh ngày 06/10/1996. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 17/12/2021.
Địa chỉ: Xóm N, xã Y, tỉnh Nghệ An (trước đây là xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An).
- Bị đơn: Ông Lê Trung T, sinh ngày 24/7/1991. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 14/8/2021.
Địa chỉ: Số F, ấp C, xã A, tỉnh Tây Ninh.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày:
Bà và ông Lê Trung T chung sống với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 12/02/2016.
Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã không còn chung sống với nhau. Nay, bà nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Lê Trung T.
Về nuôi con chung: Bà và ông T có với nhau một con chung tên Lê Nguyễn Thành N sinh ngày 07/11/2016, hiện con chung đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung.
Ông Lê Trung T là bị đơn trình bày tại bản tự khai đề ngày 10/12/2025:
Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh L.
Về nuôi con chung: Ông và bà L có với nhau một con chung tên Lê Nguyễn Thành N sinh ngày 07/11/2016, hiện con chung đang sống cùng bà L. Khi ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Trung T. Ông T cư trú tại xã A, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân khu vực 5-Tây Ninh thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Bà L, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và ông, bà có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà L, ông T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An (nay là xã Y, tỉnh Nghệ An) nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T đã phát sinh mâu thuẫn, bà L yêu cầu ly hôn và ông T cũng đồng ý; điều này thể hiện việc các đương sự không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
Về nuôi con chung: Bà L, ông T có một người con chung tên Lê Nguyễn Thành N sinh ngày 07/11/2016.
Xét, bà L và ông T thống nhất thỏa thuận giao con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để không ảnh hưởng đến cuộc sống, học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung cũng như nguyện vọng của con chung là được sống cùng với mẹ nên cần ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của đương sự, giao con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Lê Trung T.
2. Về nuôi con chung: Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Thanh L được giao giữ nuôi con chung tên Lê Nguyễn Thành N sinh ngày 07/11/2016.
Ông Lê Trung T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013991 ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Về nghĩa vụ thi hành án: Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 5-Tây Ninh; - THA dân sự tỉnh Tây Ninh; - Các đương sự; - UBND xã Y, tỉnh Nghệ An; - Lưu (hồ sơ, án văn). | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ái Duy |