vanban.org

Bản án 55/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V. Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Thành D.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày 28/01/2016 cho ông Nguyễn Thành D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời bà Nguyễn Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Nguyễn Thị V được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V + D ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V. Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Thành D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HNGĐ -ST
Ngày 05 - 08 - 2025.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI

Trong ngày 05 tháng 08 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1246/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 06 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 07 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh ngày 16/07/1993.

Số CCCD: ************; Cấp ngày 15/08/2022.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành D, sinh ngày 01/01/1976.

Số CCCD: ************; Cấp ngày 28/08/2022.

Cùng địa chỉ: Số B, khu phố N, phường H, tỉnh Đồng Nai (Địa chỉ cũ: Số B, khu phố N, phường A, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai bà Nguyễn Thị V trình bày:

Bà và chồng là ông Nguyễn Thành D kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoá An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi.

Vì không muốn hạnh phúc gia đình đổ vỡ, nên vợ chồng đã nhiều lần tạo điều kiện để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng kết quả không thành. Hiện nay cả hai đã ly thân và không còn tình cảm, không còn quan tâm đến nhau nữa.

Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vì vậy bà làm đơn ly hôn đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xem xét giải quyết cho bà được ly hôn với chồng là ông Nguyễn Thành D để chấm dứt tình trạng hôn nhân hiện nay

- Về con chung: Có 01 con chung là cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày: 28/01/2016. Khi ly hôn bà có nguyện vọng giao con cho chồng là ông Nguyễn Thành D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời bà không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai bị đơn ông Nguyễn Thành D trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị V kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoá An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách vợ chồng không hòa hợp, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi.

Vì không muốn hạnh phúc gia đình đổ vỡ, nên vợ chồng đã nhiều lần tạo điều kiện để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng kết quả không thành. Hiện nay cả hai đã ly thân và không còn tình cảm với nhau, cả hai không còn quan tâm đến nhau nữa.

Nay bà Vân khởi kiện ly hôn thì ông cũng đồng ý với yêu cầu và nguyện vọng của bà Vân, ông đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ly hôn ông đồng ý nuôi cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày: 28/01/2016 và không yêu cầu bà Vân cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp và cùng sống tại địa chỉ: Số B, khu phố N, phường H, tỉnh Đồng Nai. Nay bà Nguyễn Thị V có đơn xin ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét bà Nguyễn Thị V là nguyên đơn và ông Nguyễn Thành D là bị đơn trong vụ án có đơn xin vắng mặt xét xử. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D sau khi kết hôn, chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Nguyễn Thị V xin ly hôn và ông Nguyễn Thành D cũng đồng ý ly hôn để giải thoát cho nhau, vì vậy có căn cứ chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V.

Về con chung: Có 01 con là cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày: 28/01/2016. Ly hôn bà Nguyễn Thị V có nguyện vọng giao con cho chồng là ông Nguyễn Thành D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời bà Nguyễn Thị V không cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Nguyễn Gia P có nguyện vọng ở với ba là ông Nguyễn Thành D. Ông Nguyễn Thành D cũng đồng ý nuôi cháu Nguyễn Gia P và tạm thời không yêu cầu bà Vân cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày 28/01/2016 cho ông Nguyễn Thành D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời bà Nguyễn Thị V không cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì không trực tiếp nuôi con nên bà Nguyễn Thị V được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D khai tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị V phải chịu tiền tạm ứng án phí dân sự về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị V. Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Thành D.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày 28/01/2016 cho ông Nguyễn Thành D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời bà Nguyễn Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị V được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D khai tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D không có nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị V đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007133 ngày 26 tháng 05 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (nay là Phòng thi hành án khu vực 1 - Đồng Nai). Bà Nguyễn Thị V đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Thành D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ