vanban.org

Bản án 55/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/8/2024. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của Nguyễn Nghi A, Đinh Quang T, Nguyễn Thị Thanh Nh, Trần Thành Ngh và đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH NINH THUẬN
__________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HS-ST
Ngày: 24/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Hải Thanh.

Ông Nguyễn Văn Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quảng Đại Phát - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

TRẦN VĂN D, sinh năm: 1972 tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố G, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Hồ Thị L; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/12/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố P xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án tại Trại giam Sông Cái - Bộ công an, chấp hành xong vào ngày 05/3/2022; bị cáo tạm giữ từ ngày 25/8/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/8/2024, Trần Văn D là đối tượng nghiện ma túy, thuê xe ôm chở đến khu vực cầu Hòa Phú (cầu Sông Lũy) thuộc thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận tìm gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy. D hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá đựng trong 01 túi nilon màu trắng dạng túi zip, sau đó đi xe ôm về nhà tại tổ dân phố 16, khu phố G, thị trấn P. Khi về nhà D cất ma túy vào trong một hộp nhựa (loại hộp đựng phấn trang điểm), rồi cho vào trong túi xách cá nhân, D điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH 125i, màu đỏ, biển số 86B1- 682.12 mang theo túi xách có chứa ma túy đi hát lô tô tại xóm 5, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Khoảng hơn 23 giờ, sau khi hát lô tô xong D điều khiển xe mô tô di chuyển trên đường Quốc lộ 1A hướng đi thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Khi đi đến đoạn Quốc lộ 1A thuộc thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện D tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D và thu giữ tang vật có liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 216/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận: Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2950g (không phẩy hai chín năm không gam).

Tại bản Cáo trạng số: 53/CT-VKSTN ngày 03 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện T giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, bị cáo biết hành vi của mình là sai trái vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Ngày 25 tháng 8 năm 2024 tại thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận bị cáo Trần Văn D bị Công an huyện T bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 0,2950 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng (Tại Kết luận giám định số: 192/KL-KTHS ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận).

Xét thấy hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nên Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Trần Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Qua xem xét hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay trên địa bàn huyện T, tỉnh Ninh Thuận thường xuyên xảy ra các tội phạm về ma tuý, nhằm đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương và tuyên truyền pháp luật nên phải xử phạt thật nghiêm đối với loại tội phạm này. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo Trần Văn D ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là phù hợp với quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của Nguyễn Nghi A, Đinh Quang T, Nguyễn Thị Thanh Nh, Trần Thành Ngh và đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận. Bên trong phong bì là chất ma túy (loại Methamphetamine) còn lại sau giám định, khối lượng 0,2401g (không phẩy hai bốn không một gam) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 (một) hộp nhựa màu trắng bạc, kích thước (02 x 07)cm; 01 (một) nỏ thủy tinh dài 3,5cm, một đầu hình cầu được uốn cong đường kính 1,5cm; 01 (một) quẹt ga màu trắng bị mất phần đánh lửa, kích thước (6,5 x 02)cm; 01 (một) ống kim loại màu trắng đỏ, kích thước (04 x 05)cm; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng, kích thước (04 x 01)cm, một đầu được cắt nhọn. Tất cả được bỏ vào một túi nilon dạng túi zip dán kín, dán giấy niêm phong có chữ ký của Lê Văn L, Thái Huỳnh L, Trần Văn D và đóng dấu tròn đỏ của Công an xã P.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn D 01 (một) xe mô tô hiệu Honda SH 125i, màu đỏ, biển số 86B1-682.12, số khung: RLHJF9503NY161791, số máy: JF95E017629. Đây là tài sản không liên quan đến vụ án nên trả lại là có căn cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy và trả lại vật chứng, tài sản trên là phù hợp với quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Trần Văn D khai nhận mua ma túy của một người nam thanh niên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác minh, tuy nhiên không đủ thông tin để xác định nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh và điều tra xử lý sau là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Bị cáo buộc phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/8/2024.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của Nguyễn Nghi A, Đinh Quang T, Nguyễn Thị Thanh Nh, Trần Thành Ngh và đóng dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận. Bên trong phong bì là chất ma túy (loại Methamphetamine) còn lại sau giám định, khối lượng 0,2401g (không phẩy hai bốn không một gam) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 (một) hộp nhựa màu trắng bạc, kích thước (02 x 07)cm; 01 (một) nỏ thủy tinh dài 3,5cm, một đầu hình cầu được uốn cong đường kính 1,5cm; 01 (một) quẹt ga màu trắng bị mất phần đánh lửa, kích thước (6,5 x 02)cm; 01 (một) ống kim loại màu trắng đỏ, kích thước (04 x 05)cm; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu đỏ sọc trắng, kích thước (04 x 01)cm, một đầu được cắt nhọn. Tất cả được bỏ vào một túi nilon dạng túi zip dán kín, dán giấy niêm phong có chữ ký của Lê Văn L, Thái Huỳnh L, Trần Văn D và đóng dấu tròn đỏ của Công an xã P.

Trả lại cho bị cáo Trần Văn D 01 (một) xe mô tô hiệu Honda SH 125i, màu đỏ, biển số 86B1-682.12, số khung: RLHJF9503NY161791, số máy: JF95E017629.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 24/12/2024).

Cỡ chữ