- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thi Thu; Nguyen Van Giap"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2024/HNGĐ - ST Ngày: 27/6/2024. V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Bình và bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST- DS, ngày 13/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vi Thị Th, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 19xy. Địa chỉ: Xóm L, xã N, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn đề nghị xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị Vi Thị Th trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Vi Thị Th kết hôn với anh Nguyễn Văn G trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An ngày 02/3/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng làm ăn sinh sống tại nhà bố mẹ chồng ở xã N, huyện Thanh Chương. Cuộc sống của vợ chồng sau khi kết hôn là bình thường, đến khoảng năm 2020 thì vợ chồng mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình của vợ chồng không hợp, chồng không chịu khó làm ăn, không chu cấp tiền nuôi con và hay đánh đập vợ. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là từ năm 2023 và vợ chồng sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Nay chị Th xét thấy tình cảm vợ chồng cũng không còn nữa, nguyện vọng xin được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 03/10/20yy và Nguyễn Văn Q, sinh ngày 09/1/20yx. Nếu vợ chồng ly chị Th có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Q, giao cho anh Nguyễn Văn G nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Tr. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về ý kiến của anh Nguyễn Văn G: Sau khi thụ lý vụ án thì Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án cho anh G. Qua xác minh bố anh G (ông Nguyễn Văn S) thì anh đã nhận được và biết được các thông báo trên nhưng anh không đến Toà án làm việc theo Giấy triệu tập và Thông báo của Toà án nên không lấy được ý kiến của anh cũng như hoà giải.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn không đến Toà án làm việc theo giấy triệu tập và Thông báo của Toà án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; Điều 227,Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử.
- Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
- Về nuôi con chung: Giao con chung cho mỗi người nuôi dưỡng một cháu. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Vi Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc trường hợp không hoà giải được vì bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án được quy định tại Điều 207 của bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 13/6/2024 Toà án đã mở phiên toà xét xử vụ án nhưng do bị đơn anh Nguyễn Văn G vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà. Sau khi hoãn phiên toà thì toà án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên toà và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Văn G. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn vắng mặt nhưng đã được toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị Th và anh Nguyễn Văn G là hợp pháp, được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng làm ăn sinh sống tại nhà bố mẹ chồng ở xã N, huyện Thanh Chương. Cuộc sống của vợ chồng sau khi kết hôn là bình thường, đến khoảng năm 2020 thì vợ chồng mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình của vợ chồng không hợp, chồng không chịu khó làm ăn, không chu cấp tiền nuôi con và hay đánh đập vợ. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là từ năm 2023 và vợ chồng sống ly thân kể từ đó cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hoà giải nhưng chị Vi Thị Th vẫn kiên quyết xin ly hôn, còn anh Nguyễn Văn G vắng mặt, không có ý kiến và không đến Toà án làm việc.
Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Vi Thị Th và anh Nguyễn Văn G hiện tại chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, nếu kéo dài thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị Th, xử cho chị được ly hôn với với anh Nguyễn Văn G là đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 03/10/20yy và Nguyễn Văn Q, sinh ngày 09/1/20yx. Chị Vi Thi Th có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Q, giao cho anh Nguyễn Văn G nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Tr, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh Nguyễn Văn G đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh G không đến Toà án làm việc nên không biết được ý kiến của anh về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay hai con của vợ chồng đang còn nhỏ, nếu giao cả hai con chung cho một người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ gây khó khăn trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Do đó, để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý cũng như quyền lợi mọi mặt của các con, thì cần giao cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 09/1/20yx cho chị Vi Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao cho anh Nguyễn Văn G trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 03/10/20yy, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là đúng với quy định của pháp luật.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Vi Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Cho chị Vi Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn G.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Văn Q, sinh ngày 09/1/20yx cho chị Vi Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cho anh Nguyễn Văn G trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 03/10/20yy. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Về án phí: Chị Vi Thị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0011783 ngày 09/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án lên toà án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - TAND tỉnh Nghệ An; - VKS huyện Thanh Chương; - Chi cục THA dân sự H.Thanh Chương; - UBND xã Ngọc Sơn; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TrÇn V¨n Dòng Phan Ngọc Anh |