vanban.org

Bản án 55/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
=== *&*===

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29/02/2024
V/v ly xin hôn giữa anh Nguyễn Nhật Ch và
chị Nguyễn Thị Nh
Nh©n danh

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Mầu Thị Hải Vân Các Hội thẩm nhân dân: bà Dương Thị Kim Lan; Bà Ngô Minh Thủy Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Ân - Thư ký TAND huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 385/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXX- ST ngày 24 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Nhật Ch, sinh năm 1996 (có mặt)

HKTT: thôn X, xã L, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1996 (vắng mặt).

HKTT: thôn X, xã L, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 13/11/2023 và bản tự khai, các buổi hòa giải nguyên đơn anh Nguyễn Nhật Ch trình bày:

Anh Ch kết hôn với chị Nguyễn Thị Nh ngày 08 tháng 02 năm 2018, có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Cưới xong chị Nh về nhà chồng làm dâu ở chung với bố mẹ chồng được khoảng 1 tuần thì bố mẹ cho vợ chồng ra ở riêng (riêng đất riêng nhà). Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi cọ, xích mích không giải quyết được vấn đề, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ly thân và chấm dứt quan hệ từ ngày 30/3/2023 cho đến nay, anh Ch xác định không còn tình cảm yêu thương chị Nh nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nh.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Minh Th, sinh ngày 21/12/2018; Nguyễn Minh Th sinh ngày 19/8/2021. Quan điểm của anh Ch tại đơn khởi kiện và bản tự khai vợ chồng ly hôn anh để chị Nh nuôi con, anh tự nguyện đóng góp nuôi con chung 2.000.000đ/tháng/2con. Ngày 24/01/2024, anh Ch có bản khai bổ sung xin thay đổi nguyện vọng vợ chồng ly hôn anh xin nuôi con Nguyễn Minh Th, chị Nh nuôi con Nguyễn Minh Th. Không ai phải đóng góp nuôi con chung cùng ai. Hiện nay anh Ch làm tự do, thu nhập bình quân 8.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung; tài sản riêng, về đất canh tác, công sức, công nợ: anh Ch xác định không có không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Nh trình bày: Về thời gian kết hôn và thời gian chung sống như anh Ch trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng bình thường, thỉnh thoảng vợ chồng có cãi nhau nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình. Cách đây khoảng vài tháng anh Ch có nói chuyện với chị Nh là vợ chồng không hợp nhau anh muốn ly hôn nhưng chị Nh không đồng ý. Nay anh Ch có đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, quan điểm của chị Nh không đồng ý ly hôn, trường hợp anh Ch kiên quyết xin ly hôn chị cũng không đồng ý. Chị Nh không đến Tòa để hòa giải và xét xử.

Về con chung: có 02 con chung Nguyễn Minh Th, sinh ngày 21/12/2018; Nguyễn Minh Th sinh ngày 19/8/2021. Vì không đồng ý ly hôn nên chị Nh không có quan điểm.

Về tài sản chung; tài sản riêng, về đất canh tác, công sức, công nợ: chị Nh xác định không có, không yêu cầu.

Tại phiên tòa anh Ch vẫn giữ quan điểm xin ly hôn chị Nh, về con chung anh Ch đề nghị mỗi người nuôi 01 con, anh nuôi con Th, chị Nh nuôi con Th, không ai phải đóng góp nuôi con cho ai.

Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công sức công nợ: anh Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tại phiên toà. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 147, 228, 271,273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51,56,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Nhật Ch đối với chị Nguyễn Thị Nh.

Về tình cảm: Cho anh Nguyễn Nhật Ch được ly hôn với chị Nguyễn Thị Nh.

Về con chung: có 02 con Nguyễn Minh Th, sinh ngày 21/12/2018; Nguyễn Minh Th, sinh ngày 19/8/2021. Vợ chồng ly hôn giao con Nguyễn Minh Th cho anh Nguyễn Nhật Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Giao cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con Nguyễn Minh Th. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Các đương sự đều có quyền đi lại thăm hỏi con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung vợ chồng, tài sản riêng, đất canh tác, công sức, công nợ: anh Ch không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về áp dụng pháp luật tố tụng: yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Nhật Ch với chị Nguyễn Thị Nh, hiện đang sinh sống tại địa chỉ thôn X, xã L, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

. Về pháp luật áp dụng giải quyết vụ án: Ngày 30/11/2023, anh Nguyễn Nhật C có đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị Nh. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị Nh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án được giải quyết theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ch kết hôn với chị Nh ngày 08/02/2018, trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng, anh Ch cho rằng vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến nhiều mâu thuẫn xích mích, cãi nhau không thể giải quyết được. Vợ chồng ly thân và chấm dứt quan hệ từ tháng 3/2023 cho đến nay. Về phía chị Nh cho rằng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau nhưng chưa đến mức độ gay gắt, căng thẳng để dẫn đến phải ly hôn, việc anh Ch có đơn xin ly hôn chị Nh không đồng ý nhưng chị cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích hôn nhân giữa anh Ch và chị Nh không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không thể kéo dài. Vì vậy, việc anh Ch có đơn xin ly hôn là có căn cứ phù hợp với Điều 51, 56 Luật HN&GĐ năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Minh Th, sinh ngày 21/12/2018; Nguyễn Minh Th sinh ngày 19/8/2021.

Vợ chồng ly hôn tại đơn khởi kiện và bản tự khai nguyện vọng của anh Ch để chị Nh nuôi cả hai con, anh tự nguyện đóng góp nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ/tháng/2con. Nhưng tại bản khai bổ sung anh Ch đã xin thay đổi quan điểm về nuôi con, anh Ch xin nuôi con Nguyễn Minh Th, chị Nh nuôi con Nguyễn Minh Th không ai phải đóng góp nuôi con cho ai. Hội đồng xét xử nhận thấy anh Ch và chị Nh đều có việc làm ổn định, việc anh Ch xin nuôi con Minh Th để chị Nh nuôi con Minh Th vì con Th còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) cần sự chăm sóc của mẹ như vậy là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Anh Ch chị Nh đều có quyền đi lại và thăm hỏi chăm sóc con chung không ai được cản trở.

. Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công nợ, sông sức: anh Ch không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Nguyễn Nhật Ch phải chịu theo quy định của pháp luật. Ngoài ra các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.

Xử. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Nhật Ch đối với chị Nguyễn Thị Nh.

1.Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Nhật Ch được ly hôn với chị Nguyễn Thị Nh.

2.Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Minh Th, sinh ngày 21/12/2018; Nguyễn Minh Th sinh ngày 19/8/2021.

Giao cho anh Nguyễn Nhật Ch trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Minh Th; giao cho chị Nguyễn Thị Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Minh Th kể từ tháng 3/2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi trưởng thành nếu không có sự thay đổi khác. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào. Anh Ch, chị Nh đều có quyền đi lại thăm hỏi chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, đất canh tác, công sức, công nợ: anh Ch không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Nguyễn Nhật Ch phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh Ch đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 008344 ngày 23/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Anh Ch không phải nộp bổ sung.

5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 này kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án niêm yết tại trụ sở UBND xã L, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Nơi nhận

Cỡ chữ