- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Tú Ngân - Nguyễn Văn Hoàng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 9; Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/4/2024 “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG - TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Tấn Kiệt.
2. Bà Lê Thị Ngọc Bích.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ý là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên lương, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 234/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Tú Ng, sinh năm 1985, có mặt
NKTT: Tổ 02, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 02, ấp H, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, vắng mặt
NKTT: Tổ 02, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Chỗ ở hiện nay: ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án nguyên đơn bà Lê Tú Ng trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau năm 2004 và không có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân ly hôn do thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn về tình cảm do ông H có tình cảm với người phụ nữ khác, hiện đang sống cùng với người phụ nữ khác và vợ chồng không còn sống chung với nhau khoảng hơn 02 năm. Nay tình cảm vợ chồng rạn nứt trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa và xin được ly hôn với ông H.
Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 01/10/2004; Nguyễn Thị Trúc L1, sinh ngày 24/01/2009 và Nguyễn Thị Trúc Đ, sinh ngày 24/7/2012. Nay bà yêu cầu nuôi dưỡng con tên L1, Đ đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Đối với con tên Linh đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H hiện đang sinh sống tại ấp Song Chinh, xã Bình Trị, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt trực tiếp Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho ông H thì ông H từ chối không nhận và không trình bày ý kiến của mình. Tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa hôm nay ông H vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa là đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Tú Ng và không công nhận quan hệ giữa bà Ng với ông H là vợ chồng; Về con chung: Giao cho bà Ng tiếp tục nuôi dưỡng hai con tên Nguyễn Thị Trúc L1, sinh ngày 24/01/2009 và Nguyễn Thị Trúc Đ, sinh ngày 24/7/2012 đến khi trưởng thành và ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Ng không yêu cầu; Đối với con tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 01/10/2004 đã trưởng thành, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không yêu cầu nên miễn xét; Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu nên miễn xét. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng đến nay ông Nguyễn Văn H vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Văn H có nơi thường trú tại: Tổ 02, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang và chỗ ở: ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Đây là vụ kiện “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Xét về mối quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Tú Ng và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004, nhưng bà Ng ông H không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Ng, ông H là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa bà Ng có yêu cầu ly hôn với ông H nhưng do quan hệ hôn nhân giữa bà Ng ông H không có giá trị pháp lý nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng các quy định của Luật hôn nhân gia đình để xem xét không công nhận quan hệ giữa bà Ng và ông H là vợ chồng.
Về con chung: Có 03 người con chung tên Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 01/10/2004; Nguyễn Thị Trúc L1, sinh ngày 24/01/2009 và Nguyễn Thị Trúc Đ, sinh ngày 24/7/2012. Xét thấy bà Ng xin được nuôi con tên Nguyễn Thị Trúc L1, Nguyễn Thị Trúc Đ là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, đây là ý kiến của cháu L1, Đ đều có nguyện vọng được sống với mẹ nếu như cha mẹ ly hôn và quá trình giải quyết vụ án ông H từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, cũng như không trình bày ý kiến của mình các vấn đề liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử giao hai cháu L1, Đ cho bà Ng tiếp tục nuôi dưỡng hai con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Đối với con tên Linh đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không yêu cầu nên miễn xét.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H không phải cấp dưỡng nuôi các con do bà Ng không yêu cầu nên miễn xét.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu nên miễn xét.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ, bà Ng yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng: Điều 9; Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên xử:
1/ Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Tú Ng và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng.
Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Thị Trúc L1, sinh ngày 24/01/2009 và Nguyễn Thị Trúc Đ, sinh ngày 24/7/2012 cho bà Lê Tú Ng tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Đối với con tên Nguyễn Thị Trúc L đã trưởng thành trên 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không yêu cầu nên miễn xét.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Ng không yêu cầu nên miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên nên miễn xét.
2/ Về án phí: Áp dụng Điều 144, Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ, bà Ng phải nộp và được khấu trừ vào án phí tạm nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001785 ngày 20/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (đã thực hiện xong).
3/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (17/4/2024). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Kiên Lương; - Chi cục THADS huyện Kiên Lương; - Đương sự; - Lưu tập án, Hồ sơ; - Lưu VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Cao Thị Mai |