vanban.org

Bản án 55/2024/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 28/08/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị T.

Chấp nhận việc thay ổi kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang ối với Quyết ịnh kháng nghị số 03/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang, kháng nghị phúc thẩm ối với bản án Hôn nhân và gia nh s thẩm số 131/2024/HNST ngày 22/5/2024 của Tòa án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Lê Thị T - Bị đơn: Lê Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt ối
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 28 - 8 - 2024
V/v tranh chấp: “Chia tài sản
sau khi ly hôn”

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Linh

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Đạt

Bà Nguyễn Ái Đoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Quang- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp “Chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia nh s thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 390/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các ư ng sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người ại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàng Â, sinh năm: 1964 (Có mặt).

Địa chỉ: tổ A, khu D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 15/7/2024).

đơn: Anh Lê Ngọc H, sinh năm 1978 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị Thảo N, sinh năm: 1999 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: số B, phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Chị Lê Ngọc Cẩm N1, sinh năm: 2004 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Nguyên n chị Lê Thị T.

Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, ông Lê Hoàng  là người ại diện theo ủy quyền của nguyên n chị Lê Thị T tr nh bày: Chị Lê Thị T với anh Lê Ngọc H là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1998 và ến năm 2021 th ly hôn theo Quyết ịnh công nhận thuận t nh ly hôn và sự thỏa thuận của các ư ng sự số 136/2021/QĐST- HNGĐ, ngày 04/5/2021 của Toà án nhân dân huyện Cái B . Chị T và anh H chỉ thỏa thuận về hôn nhân và con chung, chưa giải quyết về tài sản chung.

Trong thời gian chung sống vợ chồng chị có tạo lập một tài sản là một căn nhà kết cấu vách tường, cột bê tông, mái tôn, nền gạch bông cất trên phần ất ở thửa 166, diện tích là 150,3m2, ịa chỉ tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, do anh H ại diện hộ ứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng ất và hiện tại căn nhà và phần ất trên do anh H quản lý sử dụng.

Kể từ khi ly hôn cho ến nay giữa chị T và anh H cũng không thỏa thuận ược việc chia tài sản chung của vợ chồng.

Nay chị T khởi kiện yêu cầu chia ½ giá trị căn nhà và ½ diện tích ất và chị xin nhận giá trị theo kết quả ịnh giá, ồng ý giao toàn bộ tài sản trên cho anh H.

Bị n anh Lê Ngọc H tr nh bày: Anh xác ịnh căn nhà kết cấu vách tường, cột bê tông, mái tôn, nền gạch bông là tài sản chung của vợ chồng, còn thửa ất số 166, diện tích là 150,3m2, ịa chỉ tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang là tài sản của cá nhân anh không phải là tài sản chung của vợ chồng, phần ất này là của cha anh là ông Lê Văn H1 tặng cho cá nhân anh.

Nay anh không ồng ý chia căn nhà như chị T yêu cầu v khi ly hôn anh ã có chia cho chị T một số tài sản khác có giá trị tư ng ư ng với giá trị căn nhà. Đối với phần diện tích ất 150,3m2 là tài sản của cá nhân anh nên không ồng ý chia.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thảo N và chị Lê Ngọc Cẩm N1 tr nh bày: chị N và chị N1 là con của anh H và chị T nay cha và mẹ hai chị tranh chấp chia tài sản chung là phần ất diện tích là 150,3m2 và căn nhà trên phần ất trên hai chị không có yêu cầu và tranh chấp g v ây là tài sản của cha mẹ và có n xin xét xử vắng mặt.

Tại Bản án hôn nhân gia nh s thẩm số 131/2024/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang áp dụng Khoản 1 Điều 28; iểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 43, Điều 59 và Điều 62 Luật Hôn nhân và gia nh; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T. Buộc anh Lê Ngọc H phải hoàn trả cho chị Lê Thị T ½ giá trị căn nhà với số tiền 82.393.785 ồng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người ược thi hành án có n yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành ối với số tiền phải thi hành th còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui ịnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Anh Lê Ngọc H ược quyền sở hữu toàn bộ căn nhà có diện tích là 72,3 m2, cất trên phần ất ở thửa số 166, diện tích 150,3m2( qua o ạc thực tế có diện tích 143,8 m2), tọa lạc tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T về việc yêu cầu chia ½ diện tích ất ở thửa số 166, diện tích 150,3m2 (qua o ạc thực tế có diện tích 143,8 m2), tọa lạc tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của ư ng sự.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, nguyên n chị Lê Thị T có n kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án s thẩm xét xử ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái B theo hướng: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái B có Quyết ịnh kháng nghị số 03/QĐ-VKS- HNGĐ ối với bản án s thẩm số 131/2024/HN-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái B : Kháng nghị một phần Bản án s thẩm số 131/2024/HN-ST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái B ối với phần yêu cầu chia tài sản chung là giá trị quyền sử dụng ất thửa 166. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng: Hủy một phần Bản án s thẩm số 131/2024/HN-ST ngày 22/5/2024.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người ại diện theo ủy quyền của nguyên n chị Lê Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các ư ng sự không thỏa thuận ược với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Ý kiến phát biểu của ại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm, về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý phúc thẩm cho ến khi xét xử Thẩm phán, Thư ký và Hội ồng xét xử ã tuân thủ theo úng quy ịnh của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng chấp hành úng nội quy phòng xử án và thực hiện quyền, nghĩa vụ úng pháp luật; Về nội dung vụ án: Kháng nghị số 03/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 05/6/2024 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái B ề nghị hủy án do chưa thu thập chứng cứ ầy ủ nhưng cấp phúc thẩm ã khắc phục xong, v vậy không cần thiết phải hủy án s thẩm. Đối với tài sản là thửa ất số 166 anh H cho rằng anh ược tặng cho riêng nhưng anh không có g chứng minh, anh H cũng thừa nhận anh và chị T cất nhà trên ất trước khi ược hộ ông H1 làm thủ tục tặng cho, giấy chứng nhận quyền sử dụng ất cấp cho hộ nhưng anh H và hộ ông H1 cũng không khiếu nại g . Tuy giấy ất cấp cho hộ nhưng hai con của anh H và chị T ều xác ịnh là tài sản riêng của anh H và chị T. Như vậy có ủ c sở xác ịnh thửa ất số 166 là tài sản chung của anh H và chị T. Xét yêu cầu kháng cáo của chị T là có căn cứ ề nghị Hội ồng xét xử sửa án s thẩm chia cho chị T ½ giá trị căn nhà và ½ giá trị quyền sử dụng ất của thửa ất số 166, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái B , xem xét lại án phí s thẩm.

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án ược thẩm tra tại phiên tòa, nội dung yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị T, lời tr nh bày của các ư ng sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đ n kháng cáo của chị Lê Thị T làm trong hạn luật ịnh, nội dung phù hợp nên ược xem xét chấp nhận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Thảo N và Lê Ngọc Cẩm N1 có n yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, Hội ồng xét xử căn cứ vào khoản 2 iều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt ối với chị N và chị N1.

Về nội dung vụ án: Chị Lê Thị T và anh Lê Ngọc H là vợ chồng, chung sống với nhau vào năm 1998, anh chị có hai con chung là Lê Thị Thảo N, sinh ngày 02/4/1999 và Lê Ngọc Cẩm N1, sinh ngày 23/01/2004. Chị T và anh H ược Tòa án nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang cho ly hôn vào năm 2021 theo Quyết ịnh công nhận thuận t nh ly hôn và sự thỏa thuận của các ư ng sự số 136/2021/QĐST- HNGĐ, ngày 04/5/2021. Khi ly hôn chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. Nay chị T yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn là một căn nhà kết cấu vách tường, cột bê tông, mái tôn, nền gạch bông cất trên phần ất thửa số 166, diện tích là 150,3m2, loại ất trồng cây lâu năm, tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, do anh H ại diện hộ ứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng ất. Chị T yêu cầu ược chia ½ giá trị căn nhà và ½ giá trị quyền sử dụng ất. Giá trị theo kết quả của Hội ồng ịnh giá.

Tòa án cấp s thẩm xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị T, buộc anh H chia cho chị T ½ giá trị căn nhà, không chấp nhận yêu cầu chia giá trị quyền sử dụng ất. Chị T không ồng ý nên có yêu cầu kháng cáo.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang có quyết ịnh kháng nghị ề nghị hủy một phần bản án s thẩm.

Xét nội dung kháng cáo và yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị T, Hội ồng xét xử nhận thấy:

Theo Quyết ịnh công nhận thuận t nh ly hôn và sự thỏa thuận của các ư ng sự số 136/2021/QĐST- HNGĐ, ngày 04/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang, về phần tài sản chung chị T và anh H thống nhất tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết. Nay chị T và anh H không thỏa thuận ược nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản sau ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Chị T và anh H thống nhất tr nh bày căn nhà có kết cấu vách tường, cột bê tông, mái tôn, nền gạch bông cất trên phần ất có diện tích là 150,3m2 thuộc thửa số 166, loại ất trồng cây lâu năm, tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang là do vợ chồng cùng cất. Tuy nhiên theo anh H tr nh bày, khi ly hôn anh và chị T ã thỏa thuận anh ã chia cho chị T một số tài sản còn căn nhà là ể lại cho hai ứa con gái nên anh không ồng ý chia giá trị căn nhà cho chị T theo yêu cầu của chị T. Nhưng chị T không thừa nhận, anh H không ưa ra ược chứng cứ g ể chứng minh là có sự thỏa thuận giữa chị T và anh H ối với tài sản là căn nhà, v vậy Tòa án cấp s thẩm xác ịnh căn nhà là tài sản chung chưa chia của chị T và anh H, buộc anh H có nghĩa vụ chia cho chị T ½ giá trị căn nhà là có căn cứ và phù hợp.

Đối với diện tích ất 150,3m2 (qua o ạc thực tế có diện tích 143,8m2) thuộc thửa 166, loại ất trồng cây lâu năm tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang do anh Lê Ngọc H ại diện hộ ứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với ất có số vào sổ cấp GCN: CH01684 ngày 31/7/2015, do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp. Theo anh H tr nh bày th thửa ất này anh ược cha của anh là ông Lê Văn H1 tặng cho riêng anh, không phải là tài sản chung của vợ chồng nên anh không ồng ý chia cho chị T.

Nhận thấy thửa ất số 166, diện tích 150,3m2 có nguồn gốc là một phần của thửa số 743, tờ bản ồ C2, diện tích 2.560m2, loại ất trồng cây lâu năm và ất ở, do hộ ông Lê Văn H1 ứng tên quyền sử dụng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số H00228 ngày 26/7/2005 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp. Ngày 27/4/2015 hộ ông Lê Văn H1 gồm ông Lê Văn H1, anh Nguyễn Ngọc N2 và chị Trần Thị Thanh N3 lập hợp ồng tặng cho quyền sử dụng ất, bên ược tặng cho là chủ hộ Lê Ngọc H, hợp ồng ược Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang ký chứng thực ngày 25/5/2015. Ngày 31/7/2015, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ối với thửa ất số 166, tờ bản ồ số 40, diện tích 150,3m2 loại ất trồng cây lâu năm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với ất có số vào sổ cấp GCN: CH01684 cho người sử dụng ất là “Hộ ông Lê Ngọc H”. Từ khi ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất bên tặng cho là hộ ông Lê Văn H1 cũng như bên ược tặng cho là anh Lê Ngọc H cũng không khiếu nại g về việc hộ ông Hai t cho riêng anh H. Anh H cũng thừa nhận anh và chị T cất nhà và cùng hai con chung sống trên ất khoảng năm 2005 trước khi ược ông H1 làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng ất và tặng cho trong thời kỳ hôn nhân của anh chị. Tại văn bản số 3207/UBND-NC ngày 10/10/2023 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xác ịnh tại thời iểm cấp quyền sử dụng ất cho anh Lê Ngọc H, anh H là chủ hộ, gồm 04 thành viên: anh Lê Ngọc H-chủ hộ, chị Lê Thị T-vợ chủ hộ, Lê Thị Thảo N-con chủ hộ và Lê Ngọc Cẩm N1-con chủ hộ. Tuy nhiên chị Thảo N và chị Cẩm N1 cho rằng ây là tài sản riêng của anh H và chị T hai chị không yêu cầu. Như vậy ã có ủ c sở ể xác ịnh hộ ông Lê Văn H1 tặng cho quyền sử dụng ất là tặng cho chung anh Lê Ngọc H và chị Lê Thị T trong thời kỳ hôn nhân thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng ất là hộ anh Lê Ngọc H, không phải là cấp cho cá nhân anh H. Anh H cho rằng ây là tài sản anh ược tặng cho riêng nhưng anh không có chứng cứ g ể chứng minh cho lời tr nh bày của m nh, Hội ồng xét xử không chấp nhận lời tr nh bày này của anh H.

Như nhận ịnh trên th thửa ất số 166, tờ bản ồ số 40, diện tích 150,3m2 (qua o ạc thực tế có diện tích 143,8m2) loại ất trồng cây lâu năm tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang là tài sản anh H, chị T ược tặng cho trong thời kỳ hôn nhân. Theo quy ịnh tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia nh ây ược xem là tài sản chung của anh H và chị T, v vậy việc chị T yêu cầu ược chia thửa ất trên là hoàn toàn phù hợp.

Tuy nhiên thửa ất số 166 có nguồn gốc là của gia nh anh H tặng cho không phải là tài sản do vợ chồng tạo lập, chị T chỉ có công sức óng góp duy tr và phát triển khối tài sản chung, v vậy việc chị T yêu cầu ược chia ôi giá trị quyền sử dụng của thửa ất là chưa hoàn toàn phù hợp, cần xem xét chia cho chị T 40% giá trị quyền sử dụng và chia cho anh H 60% giá trị quyền sử dụng ất. Hiện nay nhà và ất do anh H quản lý, v vậy cần giao cho anh H tiếp tục quản lý sở hữu và sử dụng căn nhà và diện tích ất nói trên, anh H có nghĩa vụ chia lại giá trị cho chị T.

Theo biên bản ịnh giá tài sản ngày 02/8/2023 của Hội ồng ịnh giá tài sản huyện C, tỉnh Tiền Giang th căn nhà có diện tích 72,3m2 giá trị thành tiền là 164.431.890 ồng, trên ất có hàng rào trụ á, lưới B40 cao 1,5m dài 4,16m giá trị thành tiền là 355.000 ồng. Tổng giá trị tài sản trên ất là 164.787.570 ồng chia ôi mỗi người là 82.393.785 ồng. Đất có giá chuyển nhượng tại ịa phư ng là 3.700.000 ồng/m2, như vậy giá chuyển nhượng quyền sử dụng ất của diện tích 143,8m2 thành tiền là 532.060.000 ồng, chia cho chị T 40% giá trị quyền sử dụng là 212.824.000 ồng, anh H 60% giá trị quyền sử dụng là 319.236.000 ồng, do giao ất cho anh H tiếp tục quản lý sử dụng nên anh H có nghĩa vụ chia lại cho chị T số tiền là 212.824.000 ồng. Như vậy tổng giá trị tài sản anh H có nghĩa vụ chia lại cho chị T là 295.217.785 ồng.

Từ những nhận ịnh trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của chị T là có căn cứ một phần, Hội ồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị T, sửa một phần bản án s thẩm.

Về chi phí tố tụng: Do chị T tự nguyện chịu nên Hội ồng xét xử không ặt ra xem xét.

Xét ề nghị của ại diện Viện kiểm sát phù hợp với một phần nhận ịnh của Hội ồng xét xử, nên ược chấp nhận.

Về án phí: Tòa án cấp s thẩm không chấp nhận phần yêu cầu của chị T về việc yêu cầu chia ½ diện tích thửa ất 166 nhưng lại buộc chị T phải chịu án phí là chưa phù hợp với quy ịnh tại iểm b khoản 5 iều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lê Thị T không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ iều 147, iều 148, khoản 2 iều 296, khoản 2 iều 308, iều 309 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ iều 213 Bộ luật dân sự; Điều 33, iều 59 và iều 62 Luật Hôn nhân và Gia nh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị T.

2. Chấp nhận việc thay ổi kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang ối với Quyết ịnh kháng nghị số 03/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang, kháng nghị phúc thẩm ối với bản án Hôn nhân và gia nh s thẩm số 131/2024/HNST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang và chấp nhận một phần ề nghị của ại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

3. Sửa một phần bản án Hôn nhân và gia nh s thẩm số 131/2024/HNST ngày 22/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang.

Buộc anh Lê Ngọc H có nghĩa vụ chia cho chị Lê Thị T ½ giá trị căn nhà và 40% giá trị quyền sử dụng ất của thửa ất số 166, tờ bản ồ số 40, diện tích o ạc thực tế là 143,8m2 tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang với tổng số tiền là 295.217.785 ồng.

Anh Lê Ngọc H ược quyền sở hữu toàn bộ căn nhà có diện tích 72,3m2, kết cấu cột bê tông, vách tường, mái tole, nền gạch ciramic; 01 hàng rào trụ á, lưới B40 cao 1,5m, dài 4,16m và ược quyền quản lý sử dụng toàn bộ thửa ất số 166, tờ bản ồ số 40, diện tích 150,3m2 ( o ạc thực tế diện tích 143,8m2), loại ất trồng cây lâu năm, tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang do anh H ại diện hộ gia nh ứng tên giấy chứng nhận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng ất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với ất số CH01684 ngày 31/7/2015 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp.

4. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 14.760.889 ồng án phí dân sự s

thẩm, chị T ã nộp 2.800.000 ồng tiền tạm ứng án phí theo các biên lai thu số 0012561 và 0012565 cùng ngày 14/6/2023 và biên lai thu số 0015417 ngày 29/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái B , tỉnh Tiền Giang, chị T còn phải nộp tiếp số tiền là 11.960.889 ồng.

Chị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Anh Lê Ngọc H phải chịu là 20.065.191 ồng án phí dân sự s thẩm.

Kể từ ngày chị T yêu cầu thi hành án, nếu anh H chậm thi hành khoản tiền trên th còn phải chịu thêm khoản lãi tư ng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án, lãi suất phát sinh do chậm thi hành án ược xác ịnh theo khoản 2 iều 357 Bộ luật dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án ược thi hành theo quy ịnh tại iều 2 Luật thi hành án dân sự; th người ược thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy ịnh tại các iều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án ược thực hiện theo quy ịnh tại iều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ