- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — ""Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản" giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H với ông Nguyễn Văn C, b…"
- Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H.
- Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2024/DS-ST Ngày: 31 - 5 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Minh Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tám.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên toà.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H; địa chỉ trụ sở Số B B, đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1970; địa chỉ làm việc Số B B, đường N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H - Vắng mặt).
2. Ông Huỳnh Hoàng N, sinh năm 1978; địa chỉ làm việc Số A, đường P, Khóm A, Phường D, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số: 1489/2023/QĐ-TGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2023 - Vắng mặt).
3. Chị Võ Ngọc D, sinh năm 1997; địa chỉ làm việc Số B, đường P, Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là người đại diện của nguyên đơn theo ủy quyền lại của ông Huỳnh Hoàng N (Văn bản ủy quyền số: 372/2023/UQ-HDB ngày 14 tháng 11 năm 2023 - Có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
2. Bà Nguyễn Thị Hồng C1, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp F, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 11 năm 2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H và trong quá trình xét xử, chị Võ Ngọc D là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 03/8/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H (gọi tắt là Ngân hàng P) cùng với vợ chồng ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng C1 ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0068/22PGDTBi/HĐTD (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng hạn mức); Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0043/22PGDTBi/HĐBĐ được Văn phòng công chứng Tạ Thị T1 chứng nhận giao dịch thế chấp, số công chứng: 10103, quyển số: 03/2022TP/CC-SCC/HĐGD (gọi tắt là Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất); tiếp theo ngày 04/8/2022 Ngân hàng P cùng với ông C ký kết Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm, số thứ tự: 961, quyển số: 01 (gọi tắt là Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất) với nội dung:
- Ngân hàng P đồng ý cấp hạn mức tín dụng cho ông C, C1 vay không vượt quá số tiền 150.000.000 đồng, có áp dụng biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp; thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng là 60 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng hạn mức đến ngày 03/8/2027; mục đích sử dụng vốn bổ sung vốn trồng cam; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất chậm trả lãi 10%/năm; về số tiền từng lần cho vay trong hạn mức, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay trong hạn, mức phí áp dụng, phương thức giải ngân, trả nợ vay sẽ được quy định cụ thể trong từng giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ. Ngoài ra các bên còn thỏa thuận về cách tính lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi, lãi suất quá hạn; các khoản phí cấp tín dụng, phí trả nợ trước hạn; thứ tự thu hồi các khoản nợ; cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn; những trường hợp bên cho vay có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ khi bên vay vi phạm.
- Tài sản bảo đảm nghĩa vụ các khoản nợ phải trả theo Hợp đồng tín dụng hạn mức đã ký là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 123, tờ bản đồ số 9, diện tích 3.438,5 m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ Ấp F, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BL 716454, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH04348 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 20/11/2012 đứng tên ông C.
Trên cơ sở Hợp đồng tín dụng hạn mức đã ký, ngày 09/8/2022 Ngân hàng Phát triển cùng với ông C, bà C1 ký kết giấy Đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số: 0068/22PGDTBi/HĐTD/KUNN01 (gọi tắt là giấy Đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ) với nội dung: Ngân hàng Phát triển đồng ý cho ông C, bà C1 vay số tiền 150.000.000 đồng giải ngân bằng tiền mặt; thời hạn vay là 12 tháng, từ ngày 10/8/2022 đến ngày 09/8/2023; lãi suất cho vay trong hạn 11,5%/tháng cố định trong thời hạn 03 tháng đầu kể từ ngày bên nhận nợ được giải ngân tiền vay, sau đó lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần theo mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm thông thường có loại tiền tương ứng với loại tiền vay, kỳ hạn 13 tháng trả lãi cuối kỳ loại 1 do Ngân hàng P công bố hoặc niêm yết tại thời điểm xác định lãi suất hoặc trong trường hợp tại thời điểm xác định lãi ngân hàng không huy động tiền gửi kỳ hạn 13 tháng thì sẽ được thay thế bằng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn ngắn hơn với tính chất tương tự, liền kề với kỳ hạn 13 tháng nêu trên, cộng biên độ lãi suất 5%/năm, nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu tại thời điểm điều chỉnh lãi suất hoặc theo quy định/quyết định của Ngân hàng P tại thời điểm điều chỉnh; phương thức trả nợ gốc một lần khi đến hạn, trả nợ lãi 03 tháng 01 lần vào ngày 05 của tháng, ngày trả nợ lãi đầu tiên là ngày 05/11/2022; miễn phí trả nợ trước hạn.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng hạn mức và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký: Ngày 10/8/2022, Ngân hàng P giải ngân cho ông C, bà C1 nhận số tiền 150.000.000 đồng. Đáo hạn hợp đồng đến ngày 01/9/2023, ông C, bà C1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay số tiền 151.936.348 đồng (Trong đó: nợ gốc 149.999.989 đồng, nợ lãi trong hạn 8.089 đồng, nợ lãi quá hạn 1.928.219 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 51 đồng). Mặc dù Ngân hàng P đã nhiều lần làm việc yêu cầu ông C, bà C1 trả nợ, nhưng cả hai vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 31/5/2024, ông C, bà C1 nợ Ngân hàng Phát triển tổng cộng số tiền 175.289.485 đồng (Trong đó: nợ gốc 149.999.989 đồng, nợ lãi trong hạn 8.089 đồng, nợ lãi quá hạn 25.280.751 đồng, nợ lãi chậm trả lãi 656 đồng).
Nay, Ngân hàng P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông C, bà C1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng P số tiền 175.289.485 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh trên nợ gốc, lãi chậm trả lãi phát sinh trên nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký, được tính kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi trả xong dư nợ gốc số tiền 149.999.989 đồng, dư nợ lãi trong hạn số tiền 8.089 đồng.
- Trường hợp ông C, bà C1 không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì buộc ông C, bà C1 phải có trách nhiệm giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng Phát triển có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý kê biên, phát mãi tài sản để thu hồi nợ. Trường hợp ông C, bà C1 trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng Phát triển đồng ý giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã thế chấp cho ông C, bà C1.
Tại biên bản hòa giải ngày 02 tháng 4 năm 2024, bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:
Thống yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng ý trả nợ. Ngoài lời trình bày ông không giao nộp tài liệu, chứng cứ nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Hồng C1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp, không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ông C, bà C1 đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do chính đáng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản thuộc loại vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.
Về thủ tục xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông C, bà C1 theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
Xét việc thỏa thuận xác lập, thực hiện quan hệ tín dụng cho vay số tiền 150.000.000 đồng, có đảm bảo khoản tiền vay bằng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng Phát triển với ông C, bà C1 trên cơ sở ký kết: Hợp đồng tín dụng hạn mức, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, giấy Đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ là đúng trình tự, thủ tục về hoạt động cho vay, thế chấp tài sản, đăng ký tài sản thế chấp bảo đảm nghĩa vụ, thỏa thuận lãi suất cho vay và mức lãi suất chậm trả lãi được quy định tại khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 94, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng; các điều 4, 10, 12, 13, 14, 15, 18, 23, 25, 30, 31 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (gọi tắt là Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN); khoản 2 Điều 292, khoản 1 và khoản 2 Điều 293, các điều 298, 317, 318 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 3 Điều 167, điểm g khoản 1 Điều 179, khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai; các điểm a và điểm b khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5, Điều 39, Điều 48, khoản 1 Điều 69 Nghị định số: 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; điểm a khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 5, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21 Thông tư liên tịch số: 07/2019/TT-BTP ngày 25/11/2019 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
Đáo hạn hợp đồng ông C, bà C1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không được Ngân hàng Phát triển cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Tính đến ngày 31/5/2024, ông C, bà C1 chưa thanh toán cho Ngân hàng Phát Triển các khoản nợ bao gồm: Nợ gốc số tiền 149.999.989 đồng, nợ lãi trong hạn số 8.089 đồng, nợ lãi quá hạn số tiền 25.280.751 đồng, nợ lãi chậm trả lãi số tiền 656 đồng. Việc Ngân hàng P khởi kiện yêu cầu ông C, bà C1 phải có nghĩa vụ trả nợ vay tổng cộng số tiền là 175.289.485 đồng và tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh trên dư nợ gốc, trả lãi chậm trả lãi phát sinh trên dư nợ lãi trong hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức và giấy Đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ đã ký tính kể từ ngày 01/6/2024 cho đến khi trả xong dư nợ gốc số tiền 149.999.989 đồng, dư nợ lãi trong hạn số tiền 8.089 đồng; yêu cầu ông C, bà C1 giao tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký cho Ngân hàng Phát triển có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý kê biên, phát mãi tài sản để thu hồi nợ trong trường hợp không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ; trường hợp ông C, bà C1 trả được toàn bộ số nợ, Ngân hàng P đồng ý giao trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã thế chấp cho ông C, bà C1 nhận lại là đúng quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 299, Điều 301, Điều 302 Bộ luật Dân sự; điểm b và điểm c khoản 4 Điều 13, Điều 20, khoản 2 Điều 21 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN.
Từ những phân tích và điều luật viện dẫn áp dụng như nhận định tại các mốc đơn mục [1], [2] “Về tố tụng” và các mốc đơn [1], [2] “Về nội dung”, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P giải quyết theo hướng đã nhận định như trên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P được chấp nhận. Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án giải quyết: Ông C, bà C1 phải nộp án phí tính tròn số tiền 8.764.474 đồng; hoàn trả cho Ngân hàng P được nhận lại số tiền 3.945.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 299, Điều 301, Điều 302; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án.
- Áp dụng điểm b và điểm c khoản 4 Điều 13, Điều 20, khoản 2 Điều 21 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Tuyên xử:
1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H.
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng C1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền 175.289.485 (Một trăm bảy mươi lăm triệu hai trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi lăm) đồng.
1.2. Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng C1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh tính trên dư nợ gốc số tiền 149.999.989 (Một trăm bốn mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm tám mươi chín) đồng và trả lãi chậm trả lãi phát sinh tính trên dư nợ lãi trong hạn số tiền 8.089 (T2 nghìn không trăm tám mươi chín) đồng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 0068/22PGDTBi/HĐTD đã ký ngày 03 tháng 8 năm 2022 và giấy Đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số: 0068/22PGDTBi/HĐTD/KUNN01 đã ký ngày 09 tháng 8 năm 2022 cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H. Thời điểm trả lãi tiếp theo được tính kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2024 cho đến khi ông C, bà C1 trả xong dư nợ gốc và dư nợ lãi trong hạn nêu trên.
1.3. Trường hợp ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng C1 không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ. Buộc ông C, bà C1 phải có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0043/22PGDTBi/HĐBĐ đã ký ngày 03 tháng 8 năm 2022 là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 123, tờ bản đồ số 9, diện tích 3.438,5 m2, loại đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ Ấp F, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BL 716454, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH04348 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 20 tháng 11 năm 2012 đứng tên ông C cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý kê biên, phát mãi tài sản để thu hồi nợ.
1.4. Trường hợp ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng C1 trả được toàn bộ số nợ. Buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H phải có nghĩa vụ giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên cho ông C, bà C1.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Buộc ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng C1 phải nộp án phí số tiền 8.764.474 (Tám triệu bảy trăm sáu mươi bốn nghìn bốn trăm bảy mươi bốn) đồng.
2.2. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H được nhận lại số tiền 3.945.000 (Ba triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số No 0013839 ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Vụ án được xét xử công khai. Có mặt chị Võ Ngọc D (người đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng, không có quyền kháng cáo); vắng mặt ông Phạm Quốc T (người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn), ông Huỳnh Hoàng N (người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, có quyền kháng cáo), ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Hồng C1. Báo cho ông T, ông N biết có quyền đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án cấp trên xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Báo cho ông C, bà C1 biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long: 02; - VKSND huyện Tam Bình: 02; - Chi cục THADS huyện Tam Bình: 01; - ĐD. NĐ + BĐ: 05; - Lưu hồ sơ vụ án: 01; - Lưu án văn: 06. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Cao Minh Tân |