- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T6 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sựcần tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HS-ST Ngày:31-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Bích Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đình Công;
2. Bà Nguyễn Thị Hoan.
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Phương Thúy- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2023/TLST-HS ngày07 tháng 6 năm 2023 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7năm 2023,đối vớibị cáo:
Nguyễn Xuân T(tên gọi khác: không),sinh ngày 06/6/1987, tại thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: khu phố B, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa:10/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C và bà Bùi Thị T1; có vợ Vũ Thị Hồng P (đã ly hôn); vợ Phạm Thị Y (đã ly hôn),có 02 con: con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không;nhân thân: ngày 24/9/2011, Tòa ánh nhân dân thị xã B, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 24/6/2013; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/4/2023 đến ngày 05/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (có mặt).
- Người làm chứng:
+ Ông Vũ Văn C1. (vắng mặt);
+ Ông Đinh Văn T2. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 28/4/2023, Nguyễn Xuân T đang đứng một mình trên vỉa hè đối diện trường Tiểu học L1, thuộc tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình thì tổ công tác Công an thành phố T đi đến yêu cầu kiểm tra hành chính. Nguyễn Xuân T xuất trình căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T, khai báo tên tuổi, địa chỉ. Tổ công tác hỏi T có sử dụng ma túy không, T khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy Heroine và có mang theo 01 gói ma túy để dụng đang cầm ở tay phải. T giao nộp gói ma túy cho tổ công tác, tổ công tác tiến hành thu giữ kiểm tra xác định bên trong gói bọc nilon màu đen là lớp giấy bạc màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng, bên trong lắp 01 sim Viettel số thuê bao 0964.336.286, 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc và 01 ống Novocain loại 3% chưa qua sử dụng và số tiền 550.000 đồng. Sau đó đưa T cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an phường T làm việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Xuân T3 kí hiệuM gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số356/KL-KTHS-MT ngày 05/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2966 gam, là ma túy, loại Heroine (H). Heroine (H)có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy thuộc Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKSTĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T4 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân T và đề nghị Hội đồng xét xử: + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249;điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 20 tháng tù đến 23 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 28/4/2023. + Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểma, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng, bao gồm:số ma túy còn lại sau định và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; mảnh nilon màu đen; mảnh giấy bạc màu vàng; bộ bơm kim tiêm, ống novocaine. Trả lại cho bị cáo số tiền 550.000 đồng. Người làm chứng ông Vũ Văn C1, ông Đinh Văn T2 đềutrình bày: khoảng 18 giờ15 phút, ngày 28/4/2023, các ông thấy Công an đến yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Xuân T, tại chỗ Thànhxuất trình căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T và tự giao nộp cho Công an gói bọc nilon đang cầm ở tay phải, bên trong là gói giấy bạc màu vàng, bên trong lớp giấy bạc là chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận là ma túy loại Heroine mang theo để sử dụng. Diễn diến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình với diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo khẳng định bản thân bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL11-BL14), Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại (BL35), Kết luận giám định số 356/KL-KTHS-MT ngày 05/5/2023của Phòng K Công an tỉnh N (BL44) và các tang vật, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: ngày 28/4/2023, tạitổ G, phường T, thành phố T, bị cáoNguyễn Xuân Thànhcó hành vi tàng trữ 0,2966 gam ma tuý loại Heroineđể sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ 0,2966 gam ma tuý loại Heroine trong người để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép và cố ý.Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy.Trực tiếp là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
……
c) Heroin, côcain, Methamphetamine, A, MDMA. XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam…”.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T5 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khaibáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khối lượng chất ma tuý bị cáo tàng trữ, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhưđề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, có như vậy mới có tác dụng giáo dục và cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, bên trong lắp 01 sim V và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Xuân T là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho bị cáo, ông C1 (là bố đẻ bị cáo) đã nhận lại những tài sản trên theo ủy quyền của bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Đối với các vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứngngày 11/7/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp. Trong đó, số ma túy là vật cấm tàng trữ, các vật chứng còn lại không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sựcần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 550.000 đồng là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: bị cáo khai nhận ngày 28/4/2023, bị cáo mua được của người bạn tên L. Do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người tên L, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩmtheo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm ckhoản 1 Điều 249; điểms khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểma, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2; điểm a khoản 3Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1.Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T6 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 20(hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/4/2023. 2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp.
+Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi số: 356/KL-KTHS-MT, vụ Nguyễn Xuân T, sinh năm 1987, xảy ra ngày 28/4/2023 tại phường T, thành phố T, mẫu vật hoàn trả gồm M= 0,2023 gam là ma túy loại Heroine; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong;
- 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh nilon màu đen; 01 mảnh giấy bạc màu vàng kích thước (8x5,5)cm;
- 01 bộ bơm kim tiêm loại 3ml/cc chưa sử dụng;
- 01 ống Novocain loại 3% chưa sử dụng. (Chi tiết vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 11/7/2023 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp) + Trả lại cho bị cáo số tiền 550.000 đồng. (số tiền đã được chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp theo ủy nhiệm chi lập ngày 07/7/2023) 3. Về án phí: bị cáo Nguyễn Xuân T7 chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Án xử sơ thẩm, bị cáocó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 31/7/2023.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - VKSND thành phố Tam Điệp; - Cơ quan Điều tra CATP Tam Điệp; - Cơ quan THA hình sự CATP Tam Điệp; - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bích Hồng |