vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 14/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị P và bị cáo Trần Thị Mỹ H phạm tội: “Đánh bạc”.

Giao bị cáo Lê Thị P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung: Bị cáo phải nộp phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo H, P đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị P và bị cáo Trần Thị Mỹ H phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HSST
Ngày 14/12/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhạn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Tấn Hoành.

2/ Bà Nguyễn Thị Anh Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 đối với các;

- Bị cáo:

1) Lê Thị P, sinh ngày 10/5/1984, Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 39, khối T, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê D (chết) và bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1950); Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ tư; Đã ly hôn, có 01 con ( sinh năm 2003); Tiền án: Ngày 16/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 41/2018/HSST ngày 16/11/2018; chấp hành xong ngày 05/6/2023. Tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

2) Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 27/7/1990; nơi sinh: Quảng Nam; nơi cư trú: 29 T, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần T (sinh năm 1953) và bà Đặng Thị H (sinh năm 1954); Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; chồng: Mai Vĩnh T (sinh năm 1985) có 01 con (sinh năm 2011).

Tiền án: không.

Tiền sự: Ngày 04/11/2022 bị Công an thành phố H ra quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Nhân thân:- Ngày 31/12/2020 bị Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc.

Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1) Bà Trần Thị B, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: 128 C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

2) Bà Phạm Thị S, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: số 111 C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin vắng mặt.

3) Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: tổ 10, khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin vắng mặt.

4) Bà Lê Thị V, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: tổ 14, khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 16/5/2023, Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố H bắt quả tang vụ đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài xì lát xảy ra tại nhà bà Trần Thị B. Các đối tượng bị bắt quả tang gồm: Phạm Thị S, Lê Thị P, Lê Thị Kim A, Trần Thị Mỹ H, Lê Thị V. Tại thời điểm bắt quả tang, số tiền trên chiếu bạc: 2.350.000đ (hai triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng). Đội Cảnh sát hình sự đã tiến hành lập biên bản và mời tất cả người vi phạm về trụ sở cơ quan Công an để làm việc.

* Hình thức đánh bạc được thực hiện như sau:

Các đối tượng tham gia đánh bạc với hình thức đánh xì lát thắng thua bằng tiền với một bộ bài tây 52 lá, nhà cái sẽ chia bài lần lượt cho các nhà con theo thứ tự từ phải sang trái, sau cùng mới là mình. Các lá bài còn dư thì nhà cái cầm nhưng không được xem. Tính điểm được thực hiện qua 2 bước. Bước 1: Tính điểm 2 lá Sau khi chia, tất cả cùng xem bài, tùy vào điểm số của bài mà mỗi người lần lượt lựa chọn bốc thêm bài hay không (nhà cái bốc sau cùng). Cách tính điểm như sau (không quan tâm màu sắc lá bài): các lá bài: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 thì số điểm tương ứng con số. Các là bài: J, Q, K thì mỗi lá được 10 điểm. Lá bài A (át): có thể tính theo: 1 lá A có thể tính 10 hoặc 11 và có thể tính là 1 đối với 3 lá bài trên tay người chơi (hoặc tính là 1, 10 hoặc 11 tùy ý). Điểm tổng là điểm của tất cả các con bài trên tay cộng lại. Với hai lá bài được chia đầu tiên, nếu người nào có những trường hợp sau đây thì trình diện ngay cho nhà cái để hưởng phần thắng cược của họ: Xì bàn: 2 lá AA, xì lát: 1 lá A và thêm một trong các lá 10, J, Q, K. Nếu nhà cái có Xì bàn hoặc Xì lát thì nhà cái thắng hết nhà con (ngoại trừ nhà con nào có bài bằng hoặc cao hơn nhà cái). Bài sẽ được thu lại để chuyển sang ván mới. Nếu nhà cái không có Xì bàn hoặc Xì lát, những người nào có sẽ thắng cược nhà cái và dừng ván bài ấy. Sau đó, nhà cái và những người chơi còn lại đi tiếp qua bước 2. Bốc thêm bài Sau khi tính điểm hai lá, người chơi có quyền bốc thêm bài (bọt bài) từ những lá bài còn dư hoặc thôi, sao cho số điểm nằm trong khoảng 16 đến 21. Việc bốc thêm bài được thực hiện theo vòng tròn từ phải sang trái, lần lượt người này xong mới đến người khác. Mọi nhà con phải có ít nhất là 16 điểm trước khi quyết định không bốc thêm bài, bởi nếu chưa đủ mà bị nhà cái kiểm bài thì bị xử thua ngay ván đó. Trước hoặc trong giai đoạn bốc bài, bất kỳ lúc nào, nhà cái cũng có quyền kiểm bài nhà con nếu đã đủ 16 điểm. Sau khi tất cả nhà con đã bốc thêm bài, nhà cái có quyền kiểm bài bất kỳ nhà con nào, nếu nhà cái hơn điểm nhà con thì thắng cược nhà con; ngược lại là thua cược nhà con; nếu hai bên bằng điểm nhau thì hòa. Khi kiểm bài một người cụ thể, nhà cái chỉ cần thông báo rằng thắng hoặc thua người bị kiểm, không nhất thiết phải tiết lộ số điểm của mình cho tất cả người chơi, ngoại trừ phải cho người đang bị kiểm bài biết nếu bị người này yêu cầu. Các trường hợp đặc biệt của giai bước 2 như Ngũ linh: với năm lá bài trên tay mà tổng điểm bằng 16 - 21, người chơi thắng tuyệt đối. Trường hợp có hai hay nhiều người cùng ngũ linh thì ai ít điểm hơn sẽ thắng. Khi đã bốc đủ năm lá thì buộc phải trình bài ra, bất chấp điểm số như thế nào. Đền bài: Người nào biết bài của mình đã quá 21 điểm mà vẫn bốc thêm bài, nếu bị phát hiện thì bị đền bài. Người đó bị xử thua tất cả mọi người khác. Quá 21 điểm được gọi là “quắc”.

Với cách thức nêu trên, quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền các bị cáo đã dùng để tham gia đánh bạc trái phép là: 2.550.000đ (hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng), cụ thể:

- Lê Thị P mang theo 5.150.000 dùng số tiền 650.000đ (sáu trăm năm mươi ngàn đồng) để đánh bạc, thắng được số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng). Còn số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) trong túi xách màu trắng không sử dụng để đánh bạc, P cất giữ trong túi.

- Lê Thị Kim A: sử dụng 400.000đ (bốn trăm ngàn đồng) để đánh bạc, thắng được số tiền 50.000đ (năm mươi ngàn đồng).

- Phạm Thị S: sử dụng 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) để đánh bạc, thắng được số tiền 50.000đ (năm mươi ngàn đồng).

- Trần Thị Mỹ H mang theo 3.000.000 đồng nhưng sử dụng 100.000đ (một trăm ngàn đồng) để đánh bạc, thua số tiền 50.000đ (năm mươi ngàn đồng).

- Lê Thị V: sử dụng 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) để đánh bạc, thua số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Tuy tổng số tiền đánh bạc chưa đủ 5.000.000 đồng nhưng đối với Trần Thị Mỹ H vào ngày 04/11/2022 bị Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Đến ngày 16/5/2023, H tiếp tục tham gia đánh bạc nên thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc mà còn vi phạm nên hành vi trên của Trần Thị Mỹ H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đối với Lê Thị P: Vào ngày 16/11/2018 Lê Thị P bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạm tội “Đánh bạc”, phạt số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) tại Bản án số 41/2018/HSST có hiệu lực vào ngày 16/12/2018 nhưng đến ngày 05/6/2023 P mới thi hành xong bản án. Vào ngày 16/5/2023 P tiếp tục tham gia đánh bạc nên thuộc trường hợp đã bị kết án về tội “Đánh bạc” nhưng chưa được xóa án mà còn vi phạm nên hành vi trên của P đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSHA ngày 02/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam truy tố các bị cáo Lê Thị P, Trần Thị Mỹ H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSHA ngày 02/11/2023 đối với các bị cáo Lê Thị P, Trần Thị Mỹ H về tội: “Đánh bạc” và đề nghị Hội Đồng xét xử:

+ Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Thị P từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; Hình phạt bổ sung: từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

+ Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i; s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ H từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; Hình phạt bổ sung: từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng của vụ án như Cáo trạng đã đề nghị.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lê Thị P; Trần Thị Mỹ H khai nhận:

Vào ngày 16/5/2023, tại nhà bà Trần Thị B, bị cáo Lê Thị P và bị cáo Trần Thị Mỹ H tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Xì lát” thắng thua bằng tiền cùng với Phạm Thị S, Lê Thị Kim A và Lê Thị V. Tổng số tiền đánh bạc là 2.550.000 đồng, trong đó bị cáo Lê Thị P đánh bạc với số tiền 650.000 đồng, thắng 150.000 đồng; bị cáo Trần Thị Mỹ H đánh bạc với số tiền là 100.000 đồng, thua 50.000 đồng. Mặc dù, tổng số tiền dùng đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng vào ngày 16/11/2018 bị cáo Lê Thị P bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạm tội “đánh bạc” phạt số tiền 20.000.000 đồng tại Bản án 41/2018/HSST có hiệu lực vào ngày 16/12/2018 đến ngày 05/6/2023 bị cáo P mới thi hành xong bản án được xem là chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, vào ngày 04/11/2022 bị cáo Trần Thị Mỹ H bị Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” như vậy, tính đến ngày 16/5/2023 bị cáo H chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên phải bị xử lý về hình sự. Vì vậy, hành vi đánh bạc của các bị cáo Lê Thị P và Trần Thị Mỹ H đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Thị P và Trần Thị Mỹ H tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSHA ngày 02/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam truy tố các bị cáo Lê Thị P, Trần Thị Mỹ H với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

- Bản thân các bị cáo Lê Thị P, Trần Thị Mỹ H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền mà không được pháp luật cho phép đều bị nghiêm cấm. Song, chỉ vì mục đích hám lợi các bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Lê Thị P đã bị Tòa án nhân dân thành phố H xét xử về tội “đánh bạc” và bị cáo Trần Thị Mỹ H đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc mà không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Các bị cáo Lê Thị P và Trần Thị Mỹ H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Trần Thị Mỹ H ngày 31/12/2020 bị Công an thành phố H ra Quyết định xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo Trần Thị Mỹ H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xét thấy các bị cáo Lê Thị P, Trần Thị Mỹ H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, số tiền đánh bạc không lớn; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt cải tạo không giam giữ và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú giám sát, giáo dục theo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng bảo đảm tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Các bị cáo có thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trong vụ án này, bị cáo P đã bị xét xử về hành vi đánh bạc mà vẫn tiếp tục vi phạm nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với bị cáo H.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) bộ bài gồm có 35 lá bài; 03 (ba) bộ bài tây, 01 (một) cái mềnh làm bằng vải màu xanh là tang vật sử dụng để đánh bạc do không còn giá trị sử dụng;

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.550.000đ (hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng) gồm: 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng) tiền đánh bạc của Lê Thị V, 800.000đ (tám trăm ngàn đồng) tiền đánh bạc của Lê Thị P, 50.000đ (năm mươi ngàn đồng) tiền đánh bạc của Trần Thị Mỹ H, 650.000đ (sáu trăm năm mươi ngàn đồng) tiền đánh bạc của Phạm Thị S và số tiền 450.000đ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) Lê Thị Kim A thừa nhận sử dụng để đánh bạc;

- Đối với điện thoại và số tiền tạm giữ trên người các bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc đánh bạc, nên trả lại cho chủ sở hữu nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án, cụ thể:

- Trả lại cho Trần Thị Mỹ H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 pro max (số máy: MLL63VN/A) gắn sim số 0989.xxx.006, bên ngoài điện thoại được bọc một ốp lưng hoa văn nhiều màu và số tiền 2.900.000đ (hai triệu chín trăm ngàn đồng) do không không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án;

- Trả lại cho Lê Thị P 01 túi xách màu trắng và số tiền 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm ngàn đồng), đây là tiền của Lê Thị P đem theo và khai nhận không sử dụng để đánh bạc, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Đối với số tiền 125.000đ (một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max (số máy: MWH7ZLL/A) gắn sim số 0905.xxx.256 của Phạm Thị S; 01 (một) điện thoại di động nhã hiệu OPPO A54 màu xanh, có ốp lưng bằng nhựa trong suốt và số tiền 1.850.000đ (một triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng) của Lê Thị Kim A không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Các vấn đề khác:

- Đối với Phạm Thị S, Lê Thị Kim A và Lê Thị V: Vào ngày 16/5/2023 có tham gia đánh bạc với hình thức đánh bài “xì lát” thắng thua bằng tiền tại nhà Trần Thị B với tổng số tiền đánh bạc là : 2.550.000đ (hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng). Qua điều tra xác định Phạm Thị S, Lê Thị Kim A và Lê Thị V chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc; chưa bị kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc. Do đó, hành vi trên của Phạm Thị S, Lê Thị Kim A và Lê Thị V không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 nên Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Thị S, Lê Thị Kim A và Lê Thị V về hành vi “Đánh bạc trái phép” là có căn cứ.

- Đối với Trần Thị B vào ngày 16/5/2023 khi các đối tượng Lê Thị P, Phạm Thị S, Lê Thị V, Lê Thị Kim A, Trần Thị Mỹ H thực hiện việc đánh bạc tại nhà của mình số 128 Cửa Đại, phường Cẩm Châu, thành phố H thì B không có ở nhà. Quá trình đánh bạc các đối tượng tự ý sử dụng nhà của B để thực hiện hành vi đánh bạc và B cũng không đồng ý cho việc đánh bạc này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với Trần Thị B.

Về án phí: Các bị cáo Lê Thị P, Trần Thị Mỹ H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Thị P và bị cáo Trần Thị Mỹ H phạm tội: “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Thị P 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.

Giao bị cáo Lê Thị P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo phải nộp phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ H 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.

Giao bị cáo Trần Thị Mỹ H cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo phải nộp phạt 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài gồm có 35 lá bài; 03 (ba) bộ bài tây, 01 (một) cái mềnh làm bằng vải màu xanh là tang vật sử dụng để đánh bạc do không còn giá trị sử dụng;

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.550.000 đồng (hai triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng).

- Trả lại cho Trần Thị Mỹ H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 pro max (số máy: MLL63VN/A) gắn sim số 0989.xxx.006, bên ngoài điện thoại được bọc một ốp lưng hoa văn nhiều màu và số tiền 2.900.000đồng (hai triệu chín trăm ngàn đồng) tuy nhiên cần tiếp tục quy trữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho Lê Thị P 01 túi xách màu trắng và số tiền 4.500.000đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng), tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

(Các vật chứng trên hiện được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023. Riêng số tiền 9.950.000 đồng hiện đang được nộp vào tài khoản số 3949.0.9043934.00000 tại Kho bạc Nhà nước H của Công an thành phố H theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 15/9/2023).

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lê Thị P, Trần Thị Mỹ H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (14/12/2023). Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ