- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn M - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HS-ST Ngày 25-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Huân và ông Quàng Văn Tại.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tòng Văn M, tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1966, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản H, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): 5/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn L, sinh năm 1944 và con bà Tòng Thị S (đã chết); vợ bà Lò Thị H, sinh năm 1966; bị cáo có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1986 (đã chết), con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án đưa ra xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2022 đến ngày 21/12/2022, được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2022 cho đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị Thuận – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn T, sinh năm 2001.
Nơi cư trú: Bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 13 giờ 15 phút, ngày 12 tháng 12 năm 2022, Tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần phối hợp với Công an xã Quài Tở làm nhiệm vụ tại khu vực bản Hới Nọ, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang Tòng Văn M, Lò Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán. Thu giữ của bị cáo Tòng Văn M 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng, không nắp đậy, bên trong đựng 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong chứa cục bột màu trắng nghi ma túy (loại Heroine) và một tờ tiền mệnh giá 50.000đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Thu giữ của Lò Văn T tại túi áo khoác bên phải đang mặc 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong chứa cục bột màu trắng nghi ma túy (loại Heroine); Lò Văn T khai nhận gói bị thu giữ là ma túy do Lò Văn T vừa mua của bị cáo Tòng Văn M.
Ngày 12/12/2022 tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: Mẫu cục bột màu trắng thu giữ của bị cáo Tòng Văn M có khối lượng 1,17 gam, trích khối lượng 0,06 gam làm mẫu trưng cầu giám định. Mẫu cục bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T có khối lượng 0,06 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 30/KL-KTHS ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu cục bột màu trắng ký hiệu M1 thu giữ của Lò Văn T và mẫu cục bột màu trắng ký hiệu N2 trích ra từ vật chứng thu giữ của Tòng Văn M gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn M khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 12/12/2022 tại bản Hới Nọ, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; bị cáo mua được của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi, không biết họ tên, địa chỉ cụ thể 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng với giá 400.000đồng, việc mua bán chỉ có bị cáo và người đàn ông đó, không có ai chứng kiến, tham gia cùng. Mua được Heroine bị cáo cầm gói Heroine về nhà, đến nhà bị cáo lấy gói Heroine ra cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít, sử dụng xong bị cáo gói lại rồi cho vào một lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng có sẵn trong nhà và cất giấu trong túi áo bên phải đang mặc. Khoảng 13 giờ cùng ngày bị cáo lấy gói Heroine ra dùng móng tay cấu lấy một ít cho vào mảnh nilon màu hồng bán cho Lò Văn T với giá 50.000đồng. Đến khoảng 13 giờ 15 cùng ngày thì bị tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo và Công an xã Quài Tở phát hiện, bắt quả tang bị cáo Tòng Văn M, Lò Văn T đang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ vật chứng.
- Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng bị thu giữ là do Lò Văn T mua của bị cáo Tòng Văn M với giá 50.000đồng vào hồi 13 giờ 00 ngày 12/12/2022.
Cáo trạng số: 44/CT-VKS-TG ngày 03 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Tòng Văn M về tội: Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tòng Văn M từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 1,11 gam Heroine còn lại, 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng, 02 (hai) mảnh nilon màu hồng và 02 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 50.000đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, thu của bị cáo Tòng Văn M.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn M: Nhất trí với Cáo trạng truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo có bố đẻ là ông Tòng Văn Lả được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức về pháp luật, xã hội còn hạn chế. Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và cân nhắc về nhân thân, hoàn cảnh gia đình cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; không phạt bổ sung bằng tiền, miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không bổ sung ý kiến vào lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 12/12/2022, tại nhà bị cáo Tòng Văn M ở bản Hới Nọ, xã Quài Tở, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Tòng Văn M bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 1,17 (một phẩy mười bảy) gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán lẻ để thu lợi; cụ thể hồi 13 giờ 00 ngày 12/12/2022 bị cáo đã bán cho Lò Văn Thắng 0,06 gam với giá 50.000đồng, vì vậy tổng khối lượng Heroine bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là 1,23 gam. Hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, kết luận giám định, lời khai của bị cáo và Lò Văn Thắng trong quá trình điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi và khối lượng Heroine bị thu giữ thì bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 251 quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị xử lý nghiêm M khi bị phát hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Hơn nữa ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác gây mất trật tự an toàn xã hội vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm M trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội nghiêm trọng, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, khối lượng Heroine. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 của Bộ luật Hình sự cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
Đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa về hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, nghề nghiệp chính của bị cáo trước khi bị bắt là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với 1,11 gam Heroine (vật chứng còn lại, đã trích mẫu gửi giám định) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng, 02 (hai) mảnh nilon màu hồng là công cụ dùng vào việc phạm tội, 02 (hai) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng là vật không có giá trị. 50.000đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam là tiền do bị cáo bán ma túy mà có. Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi, không rõ họ, tên, địa chỉ cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 12/12/2022. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ điều tra xác M nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với Lò Văn T là người đã mua 0,06 gam Heroine của bị cáo, khối lượng Heroine Lò Văn T tàng trữ dưới mức khối lượng truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều 249 hoặc chưa bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250 và 251 của Bộ luật Hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính với Lò Văn T là đúng pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tòng Văn M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, khấu trừ cho bị cáo 09 (chín) ngày tạm giữ; bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong chứa 1,11 (một phẩy mười một) gam Heroine; 01 (một) lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng, 01 (một) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong gồm 01 (một) mảnh nilon màu hồng, 01 (một) vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 50.000đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam, thu của bị cáo Tòng Văn M.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Tòng Văn M được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Tòng Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/4/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - CQTHAHS – Công an tỉnh Điện Biên; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo, người bào chữa; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |