vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 19/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T1
TỈNH T2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST
Ngày 19/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T1, TỈNH T2

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ngọc Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hiểu.

Bà Phan Thị Hạnh Mỹ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện T1, tỉnh T2.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T1 tỉnh T2, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2023/TLST-HS ngày 16/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST-HS ngày 05/7/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th - sinh ngày 01/4/1984, tại huyện T1, tỉnh T2; nơi cư trú: Thôn TD, xã NT, huyện T1, tỉnh T2; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Qt (đã chết) và bà Lê Thị H; bị cáo có vợ là Phạm Thị Th (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 29/4/2005 bị Tòa án nhân dân huyện T1 xử phạt 6 tháng tù giam về tội Cưỡng đoạt tài sản theo Bản án số 08 ngày 29/4/2005. Ngày 31/8/2005 bị cáo đã chấp hành xong bản án, đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 16/3/2023 đến ngày 22/3/2023 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T1; bị cáo trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Anh Phạm Văn H, sinh năm 1991; anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, đều trú tại thôn DP, xã NT, huyện T1, tỉnh T2 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 16/3/2023, tại đoạn đường khu vực trước cửa nhà anh Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1978, trú tại thôn HT, xã NT, huyện T1, tỉnh T2. Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Th đang tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1839 gam trong túi áo khoác bên phải đang mặc với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn Th khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 07 giờ ngày 16/3/2023 Th đi nhờ xe của người qua đường đến khu vực cống B thuộc thôn LT, xã NH, huyện T1 mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây Th gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 100.000 đồng ma túyloại Heroin, người này đồng ý nhận tiền và bảo Th đứng đợi. Khoảng 10 phút sau người này quay lại và đưa cho Th 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, biết đây là ma túy Th nhận và cất vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Khi đến đoạn đường khu vực trước cửa nhà anh Nguyễn Văn Th1 ở thôn HT, xã NT, huyện T1 thì bị Công an huyện T1 phát hiện, Th đã tự nguyện giao nộp 01 gói ma túy có đặc điểm như trên và khai nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Th tại thôn TD, xã NT, huyện T1, tỉnh T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T1 không phát hiện, thu giữ gì.

Lời khai của những người làm chứng là anh Phạm Văn H và anh Nguyễn Văn L thể hiện: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/3/2023, khi các anh đi đến khu vực trước cửa nhà anh Nguyễn Văn Th1, trú tại thôn HT, xã NT, huyện T1, tỉnh T2 thì được chứng kiến Công an đang làm việc với Th vì nghi ngờ Th liên quan đến ma túy. Qua làm việc, các anh nghe thấy Th khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy trên người. Công an yêu cầu Th và mời người làm chứng về trụ sở UBND xã NT để làm việc. Tại đây, anh H và anh L chứng kiến Nguyễn Văn Th tự giác lấy ở túi áo khoác ngoài bên phải phía trước Th đang mặc ra 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở kiểm tra bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho Công an huyện T1 và khai nhận đây là ma túy của Th mua để sử dụng cho bản thân.

Tại Bản Kết luận giám định số 363/KL- KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2 kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine) có khối lượng 0,1839 gam. Heroin STT: 09, Danh mục IA, phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSTH ngày 16/6/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố Nguyễn Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 363/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự, bên trong chứa 0,1423 gam Heroin, bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo đồng ý với tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, không tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Th đều khai nhận: Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 16/3/2023, tại đoạn đường khu vực trước cửa nhà anh Nguyễn Văn Th1 ở thôn HT, xã NT, huyện T1, Công an huyện T1 phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,1839 gam trong túi áo khoác bên phải với mục đích để Th sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Th phù hợp và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét chỗ ở; Biên bản tạm giữ, đồ vật tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ; Bản kết luận số 363/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2; Biên bản ghi lời khai của người làm chứng và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn Th là người đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1839 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T1, tỉnh T2 quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

..............................................................................................................

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Nguyễn Văn Th là người sử dụng ma túy, biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội. Bị cáo đã từng bị xử phạt tù về hành vi Cưỡng đoạt tài sản đã được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học, vẫn sử dụng ma túy và tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an, hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý. Cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Do bị cáo là người nghiện ma túy, mua ma túy để sử dụng cho bản thân, không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Hội đồng xét xử cũng xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Th đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố đẻ là ông Nguyễn Minh Q được tặng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này: Đối với người bán ma túy cho Th, Th khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực cống Bưởi thuộc địa phận thôn LT, xã NT, huyện T1 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xác định đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Th để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,1423 gam Heroin hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 363/KL-KTHS của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2 là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 0,1423 gam Heroin hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả số 363/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T2.

(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả chi tiết trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/6/2023 tại Chi cục thi Hành án Dân sự huyện T1, tỉnh T2).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 19/7/2023./.

Cỡ chữ