vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 14/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L.

[2] Về Tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao bản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ
=======================================
ơ
Bản án số: 55/2023/HS-ST
Ngày 14/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đình Xuân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mạnh Cường và ông Tống Như Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên toà: Ông Lưu Thanh Liêm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2023/TLST-HS, ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo;

1. Họ tên:NGUYỄN THỊ L; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10 tháng 09 năm 1955, tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn 10/10; Nơi thường trú: khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Con ông: Nguyễn Văn T (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T1 (Đã chết); Anh, em ruột: Có 08 người, bị cáo là con thứ nhất; Chồng: Vi Văn H, sinh năm 1947 (Đã chết); Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Thị L không bị bắt tạm giữ, tạm giam hiện đang tại ngoại tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ tên: NGUYỄN THỊ MINH H1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 24 tháng 08 năm 1968, tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công chức xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Là đảng viên Đ, sinh hoạt tại Đảng ủy xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Học vấn 12/12; Nơi thường trú: khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Con ông: Nguyễn Văn N (Đã chết). Con bà: Đỗ Thị T2, sinh năm 1931; Anh, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ sáu; Chồng: Nguyễn Văn S, sinh năm 1965, trú tại khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Thị Minh H1 không bị bắt tạm giữ, tạm giam hiện đang tại ngoại tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Xuân T3 – Sinh năm 1957

Trú tại: Khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

2. Ông Nguyễn Văn H2 – Sinh năm 1966

Trú tại: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3. Ông Nguyễn Văn T4 – Sinh năm 1963

Trú tại: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

4. Anh Nguyễn Mạnh Q – Sinh năm 1978

Trú tại: Khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

5. Anh Đặng Quang S1 – Sinh năm 1979

Trú tại: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

6. Ông Nguyễn Văn H3 – Sinh năm 1966

Trú tại: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

7. Ông Nguyễn Văn T5 – Sinh năm 1968

Trú tại: Khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03/03/2023, nhận được tố giác của quần chúng nhân dân về việc tại nhà ở của Nguyễn Thị L, sinh năm 1955 thuộc khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Cơ quan CSĐT Công an huyện T phối hợp với chính quyền địa phương xã H đến nhà L, phát hiện: trên chiếc bàn gỗ kê tại gian phòng khách nhà L có: 02 tờ giấy khổ A4, trên hai tờ giấy có ghi các số, chữ bằng mực bút bi màu đen; 02 mảnh giấy có ghi các chữ, số bằng mực màu xanh và mực màu đen; 01 chiếc bút bi mực màu đen; 01 quyển vở kẻ ngang. Quá trình làm việc L khai nhận 02 tờ giấy khổ A4 và 02 mảnh giấy trên là bảng đề, cáp đề; trong ngày 02/3/2023, L đã đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho một số người trên địa bàn xã và lân cận. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9; điện thoại đã qua sử dụng, gắn hai sim số 0387960469 và 0368237463; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; điện thoại gắn sim số 0963753392 đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã lập biên bản sự việc thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu làm căn cứ xử lý vụ việc.

Tại cơ quan CSĐT Công an huyện T, Nguyễn Thị L đã khai nhận hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề cụ thể như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 28/02/2023, trên đường L đi đền D thuộc xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ thì gặp Đặng Thị Thanh H4, sinh năm 1968, trú tại khu I, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Do biết H4 nhận số lô, số đề nên L đặt vấn đề làm thư ký bán số lô, số đề cho khách, sau đó chuyển cho H4 để hưởng phần trăm hoa hồng, H4 đồng ý. Hàng ngày, L ở nhà nhận các số lô, số đề khách mua, sau đó tổng hợp bảng đề và chuyển cho H4. Đối với số lô, L thường bán cho khách 23.000 đồng/1 điểm, với số đề L thường cho khách hưởng hoa hồng từ 10% đến 15% tổng số tiền đánh. Trong ngày 02/03/2023 L đã bán số lô, số đề cụ thể như sau:

Khoảng 15 giờ 30 ngày 02/3/2023, L ở nhà thì Nguyễn Văn H2, sinh năm 1966, trú tại khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ một mình đến nhà gặp L hỏi mua số lô, số đề. L đồng ý, H2 đọc số lô, số đề muốn mua, cụ thể: số lô 75 là 5 điểm, số đề 75 là 5.000 đồng, L sử dụng chiếc bút bi mực màu đen có sẵn tại chỗ ở của gia đình rồi viết số lô, số đề H2 mua vào tờ giấy trắng khổ A4 để tổng hợp (gọi là bảng đề). Sau đó L đưa chiếc bút và bảng đề cho H2 tự viết chữ “H2” xuống phía dưới các số lô, số đề H2 mua để L theo dõi. Số tiền số lô, số đề L bán cho H2 là 120.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H2 trúng thưởng số lô 75 là 5 điểm được số tiền là 400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L bán số lô, số đề cho H2 sau khi có kết quả xổ số là 520.000 đồng. Số tiền đánh bạc L và H2 đã thanh toán cho nhau.

Khoảng 16 giờ 30 ngày 02/3/2023, L ở nhà thì thấy Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1957, trú tại khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ điện thoại từ số điện thoại của T3 0386862681 đến số điện thoại của L 0368237463 hỏi mua của các số lô 27, 72, 01, 10, 14, 41 mỗi số lô 2 điểm, tổng là 12 điểm lô. L đồng ý, sử dụng chiếc bút bi ghi các số lô này vào bảng đề để tổng hợp rồi L viết chữ “T3” xuống phía dưới các số lô này để theo dõi. L bán cho trọng 12 điểm lô giá 276.000 đồng. Được khoảng 30 phút sau T3 đến nhà gặp và trả trước cho L số tiền 116.000 đồng, số tiền còn lại 160.000 đồng, T3 nợ lại L. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, T3 trúng thưởng số lô 27 là 2 điểm được số tiền là 160.000 đồng, L đã sử dụng số tiền T3 trúng thưởng trừ số tiền T3 nợ tiền mua số lô. Tổng số tiền L bán số lô, số đề cho T3 sau khi có kết quả xổ số kiên thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày là 436.000 đồng. Số tiền đánh bạc L và T3 đã thanh toán cho nhau.

Khoảng 17 giờ 00 ngày 02/3/2023, L ở nhà thì thấy Đặng Quang S1 (tên thường gọi là P), sinh năm 1979, trú tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ một mình đến nhà gặp L hỏi mua số lô, số đề, L đồng ý. Sáng đưa cho L một mảnh giấy kẻ ô ly, trên mảnh giấy này Sáng ký tên P và ghi sẵn các số lô, số đề cụ thể: các số đề 49, 79, 97, 96, 32, 05 mỗi số 5.000 đồng; số đề 87 là 10.000 đồng; số đề 77 là 20.000 đồng; số đề 12 là 10.000 đồng; số đề có tổng hai chữ số bằng 5 là 30.000 đồng; các số đề 01, 09 mỗi số là 5.000 đồng; số lô 77 là 2 điểm; số lô 12 là 1 điểm. Tổng số tiền số lô, số đề L bán cho S1 là 179.000 đồng, L cho Sáng hưởng 10.000 đồng hoa hồng tiền đề. L sử dụng bút bi ghi các số lô, số đề S1 mua vào bảng đề để tổng hợp rồi viết chữ “P” xuống phía dưới các số lô, số đề này để theo dõi. Sau khi có kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, anh S1 trúng thưởng số đề 77 là 20.000 đồng được số tiền 1.400.000đ và trúng thưởng số lô 77 là 02 điểm được 160.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L bán số lô, số đề cho anh S1 sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc là 1.739.000 đồng. Số tiền đánh bạc L và S1 đã thanh toán cho nhau.

Khoảng 17 giờ ngày 02/3/2023, L ở nhà thì thấy Nguyễn Mạnh T6, sinh năm 1968, trú tại khu T, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ một mình đi bộ đến nhà gặp L hỏi mua số lô, số đề, L đồng ý. T6 đưa cho L mảnh giấy mà anh T6 ghi sẵn các số lô, số đề tương ứng với số điểm và số tiền T6 muốn mua, cụ thể: số lô 64 là 2 điểm, số lô 29 là 1 điểm, L bán cho T6 23.000đ/1 điểm lô; lô xiên 2 (11, 25) là 1 điểm với giá 10.000đ/1 điểm; số đề 38, 10 mỗi số 10.000 đồng, số đề 14 là 16.000 đồng, số đề 60 là 3.000 đồng. Tổng số tiền số lô, số đề L bán cho T6 là 118.000 đồng, L cho T6 hưởng 3.000 đồng, hoa hồng tiền đề. L sử dụng bút bi ghi các số lô, số đề T6 mua vào bảng đề để tổng hợp rồi L viết chữ “T6” xuống phía dưới các số lô, số đề này để theo dõi. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, T6 không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc L và thắng đã thanh toán cho nhau.

Khoảng 17 giờ 30 ngày 02/3/2023, L ở nhà thì thấy Nguyễn Văn T4, sinh năm 1963, trú tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhắn tin từ số điện thoại của T4 0385913668 đến số điện thoại của L 0963753392 hỏi mua của các số lô 06, 60, 07, 70 mỗi số lô 5 điểm. L nhắn tin cho T4 “ok” tức là đồng ý. Số lô L bán cho T4 là 22.500đồng/ 1điểm lô, tổng 20 điểm lô là 450.000 đồng, L sử dụng chiếc bút bi trên ghi các số lô anh T4 mua vào bảng đề để tổng hợp và viết chữ “T4” vào phía dưới để theo dõi. Về số tiền bán số lô cho T4, do trước đó T4 đã đưa cho L số tiền là 1.200.000 đồng để mua số lô, số đề dần, nên L lấy số tiền này trừ đi 450.000 đồng, T4 còn thừa số tiền là 750.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, các số lô T4 mua không trúng thưởng. Tổng số tiền L bán số lô, số đề cho T4 là 450.000 đồng. Số tiền đánh bạc L và T4 đã thanh toán với nhau. Số tiền thừa 750.000 đồng T4 đã lấy lại.

Khoảng 17 giờ 30 ngày 02/3/2023, L ở nhà thì thấy Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1978, trú tại khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhắn tin từ số điện thoại của Q 0356171072 đến số điện thoại của L 0963753392 hỏi mua: số đề 24 là 55.000 đồng; các số lô 24, 07, 78, 30 mỗi số lô 5 điểm; đề ba càng 024 là 50.000 đồng. L nhắn tin lại cho anh Q “ok” tức là L đồng ý, sau đó L sử dụng chiếc bút bi ghi các số lô, số đề bán cho Q vào bảng đề và viết chữ “Q” xuống phía dưới để theo dõi, số tiền lô L bán cho Q là 460.000 đồng. Tổng số tiền số lô, số đề L bán cho anh Q là 565.000 đồng, L cho Q hưởng 5.000 đồng, hoa hồng tiền đề. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, Q không trúng thưởng. Số tiền đánh bạc L và quyết đã thanh toán với nhau.

Khoảng 17 giờ 35 ngày 02/3/2023, L ở nhà thì thấy Nguyễn Văn H3, sinh năm 1966, trú tại khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ một mình đến gặp L hỏi mua các số lô 51, 59 mỗi số lô 2 điểm; các số lô 76, 86, 53, 45, 47, 74 mỗi số lô 1 điểm; số đề 09, 07, 08, 80, 66, 64 mỗi số 5.000 đồng; số đề 51 là 22.000 đồng; đề đầu 9 là 30.000 đồng; đề đít 2 là 30.000 đồng. L đồng ý, sử dụng bút bi ghi các số lô, số đề này vào bảng đề và viết chữ “H3” xuống phía dưới các số lô, số đề này để theo dõi; Tổng tiền số lô, số đề L bán cho anh H3 là 342.000 đồng, L cho anh H3 hưởng hoa hồng tiền đề là 12.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H3 trúng thưởng số lô 53 là 1 điểm được số tiền 80.000 đồng. Tổng số tiền L bán số lô, số đề cho H3 sau khi có kết quả xổ số là 422.000 đồng. Số tiền đánh bạc L và H3 đã thanh toán với nhau.

Trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 18 giờ 05 phút ngày 02/3/2023, L ở nhà thì Nguyễn Thị Minh H1, sinh năm 1968, trú tại khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhắn tin từ số điện thoại của H1 0986143947 đến số điện thoại của L 0963753392 hỏi mua các số lô, số đề cụ thể H1 nhắn 04 tin nhắn hỏi mua của L tổng số là 320 điểm lô giá 22.500 đồng/01 điểm, thành tiền là 7.200.000 đông; lô xiên, L bán cho H1 với giá là 10.000 đồng/1 điểm, tổng 08 điểm lô xiên là 80.000 đồng; số tiền đề L bán cho H1 là 260.000 đồng. Tổng số lô, số đề L bán cho H1 là 7.540.000 đồng. L nhắn tin lại cho H1 lần lượt 04 tin “0k” ‘2t” “3t” “4” tức là đồng ý bán số lô, số đề cho H1 và cho H1 hưởng 39.000 đồng hoa hồng tiền đề. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H1 trúng thưởng số lô 89 và 98 mỗi số 30 điểm; số lô 34 là 20 điểm; số lô 33 và 35 mỗi số 10 điểm; số lô 53 và 57 mỗi số 5 điểm. Tổng H1 trúng thưởng 110 điểm lô được số tiền 8.800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền số lô, số đề L bán cho H1 sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày là 16.340.000 đồng. Số tiền mua số lô, số đề và tiền trúng thưởng số lô, số đề L và H1 chưa thanh toán với nhau.

Ngoài bán số lô, số đề cho số người trên, L khai nhận tự đánh và bán số lô, số đề cho số người trực tiếp đến nhà L gồm:

Nguyễn Xuân D, sinh năm 1989, trú tại khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ với số tiền mua số lô, số đề là là 370.000 đông. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày D trúng thưởng số đề 77 là 12.000 đồng được số tiền 840.000 đồng. Tổng số tiền đề L bán cho anh D sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày là 1.210.000 đồng. Về số tiến bán số lô, số đề L và anh D đã thanh toán với nhau.

Một số người L chỉ biết tên là: H5, P1, Q1, và một người lạ L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể với tổng số tiền bán số lô, số đề là : 1.872.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L khai nhận, sau khi bán số lô, số đề cho khách, L sử dụng chiếc điện thoại di động N2 105, gắn sim số 0963753392 nhắn tin chuyển các số lô, số đề này đến số điện thoại 0386268200 của Đặng Thị Thanh H4. Trong khi chuyển bảng cho H4, L tự ghi thêm các số lô, số đề vào bảng đề để đánh với H4, với số tiền là 186.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Xuân T3, Nguyễn văn H6, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Mạnh Q, Đặng Quang S1, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thị Minh H1 đến để làm việc, tại cơ quan điều tra các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình như L đã khai báo và tự giao nộp số tiền đánh bạc cụ thể: Nguyễn Văn H2 là 400.000 đồng; Đặng Quang S1 1.560.000 đồng; Nguyễn Văn H3 80.000 đồng; Nguyễn Thị Minh H1 7.501.000 đồng, Nguyễn Văn T4: 750.000 đồng. Nguyễn Mạnh Q tự nguyện nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216, màu đen, điện thoại gắn sim số 0356171072.

Nguyễn Thị Minh H1 thừa nhận hành vi mua số lô, số để của L như L đã khai nhận và tự giải trình bảng đề cơ quan thu giữ của Nguyễn Thị L. Tại cơ quan điều tra H1 tự giao nộp 01 chiếc điện thoại Sam Sung Galaxy J2Pro là chiếc điện thoại để nhắn tin mua số lô, số đề của Nguyễn Thị L, tuy nhiên sau khi so sánh biết kết quả H1 đã xóa tòa bộ các tin nhắn trong điện thoại.

Quá trình tổng hợp bảng đề đối với số lô, số đề bán cho Nguyễn Thị Minh H1, L tổng hợp ra 01 tờ giấy A4 để theo dõi riêng, các số lô, số đề còn lai của khách và của L trực tiếp đánh; L tổng hợp ra 01 tờ giấy A4 khác để theo dõi. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị L đã tự giải trình bảng số lô số đề trong 02 cáp đề và 02 tờ giấy A4 bị thu giữ. Đối với 01 quyền vở kẻ ngang quá trình kiểm tra xác định đây là quyền vở L ghi lại các số lô, đề của Nguyễn Thị Minh H1 để theo dõi.

Đối với các đối tượng L không biết cụ thể tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được. Tuy nhiên các số lô, số đề các đối tượng trên đánh bạc được tổng hợp trong bảng đề cơ quan điều tra đã thu giữ, vì vậy L phải chịu trách nhiệm đối với các số lô, số đề như trong biên bản giải trình số lô, số đề của L trước cơ quan điều tra.

Như vậy, tổng số tiền L đã bán số lô, số đề trong ngày 02/03/2023 khi sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày là 23.672.000 đồng.

Đối với việc chuyển số lô, số để cho Đặng Thị Thanh H4, L khai nhận đối với các số lô, số đề của Nguyễn Thị Minh H1, L sử dụng điện thoại Nokia 105 nhắn tin gửi 04 tin nhắn đến số 0386268200 của H4 và được H4 nhăn lại 04 tin nhắn với nội dung:” “1” “2” “3” “4”. L khai đó là H4 nhắn lại “1” “2” “3” “4” là đồng ý nhận 04 tin nhắn chuyển bảng lô, đề của L. Đối với các số lô, số đề còn lại L chuyển cho H4 bằng hình thức nhắn tin qua zalo số điện thoại 0963753392 qua chiếc điện thoại Sam Sung Galaxy A9 , sau khi có kết quả L đã xóa tin nhắn zalo trên.

Ngoài bán số lô, số đề ngày 02/3/2023, L còn khai nhận ngày 01/3/2023, L đã bán số lô, số đề cho một số người dân trên địa bàn, L không biết tên, địa chỉ với số tiền khoảng 1.200.000 đồng và nhắn tin chuyển bảng cho H4, Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày, không có người dân nào trúng thưởng L đã đốt bảng đề và xóa tin nhắn gửi cho H4 ngày 01/03/2023. Số tiền đánh bạc H4 và L đã thanh toán cho nhau bằng hình thức trực tiếp.

Cơ quan CSĐT đã triệu tập Đặng Thị Thanh H4 đến để làm việc, tại cơ quan điều tra: H4 khai nhận đang sử dụng số 0989.541.355, đối với 0386.268.200 H4 đã làm mất cùng với chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam Sung, màu đen vào ngày 26/02/2023 trên đường đi lễ ở chùa T7, xã C, cụ thể rơi ở vị trí nào H4 không rõ. Sau khi bị mất H4 không làm lại sim, cũng không sử dụng sim điện thoại trên. Do quen biết với L nên trước đây H4 thỉnh thoảng sử dụng số điện thoại này để liên lạc với L rủ đi lễ. H4 không thừa nhận việc đã mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thị L như L đã khai báo. Từ trước đến nay H4 chưa mua bán số lô, số đề với L và bất kỳ ai.

Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu thông tin và lịch sử liên lạc của số thuê bao 0386.268.200 trong hai ngày 01/03/2023 và 02/03/2023 xác định chủ thuê bao đứng tên Đặng Thị Thanh H4, ngoài số thuê bao liên lạc với L, trong hai ngày 01 và 02/03/2023 còn có các số thuê bao liên lạc đến số trên gồm: 0963825188, 0978759852, 0399802326, tuy nhiên, H4 khai không biết những số điện thoại trên là của ai. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu thông tin của các số điện thoại trên xác định: số thuê bao 0963825188 là của Vy Ngọc K, sinh năm 1990, khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, K khai nhận không sử dụng số điện thoại trên, anh có quen biết và hay đi chùa cùng H4, nhưng không có số điện thoại của H4, cũng không biết H4 bán số lô, số đề. Đối với số thuê bao 0399802326 là của Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1954, Khu C, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ, L1 khai nhận sử dụng số điện thoại trên, L1 có quen biết với H4 vì là người cùng xã, trong ngày 01 và 02/03/2023 do thời gian đã lâu nên L1 không nhớ có liên lạc với H4 hay không, qua kiểm tra điện thoại hiện tại L1 không có lưu số của H4, L1 cũng không biết việc H4 ghi số lô, số đề nên không mua bán số lô, số đề gì với H4. Số thuê bao 0978759852 là của anh Nhạc Văn N1, sinh năm 1967, khu E, xã H huyện T, tỉnh Phú Thọ, anh N1 có quen biết xã hội vưới H4, tuy nhiên anh N1 khai từ đầu tháng 05/2023 chiếc điện thoại của anh bị rơi xuống nước hỏng, và sim điện thoại thì bị cháy, chưa làm lại sim nên anh N1 không nhớ có lưu số điện thoại của H4 trong điện thoại không và do thời gian đã lâu anh cũng không nhớ được ngày 01 và 02/03/2023 anh có liên lạc với H4 hay không. Anh N1 không biết H4 có mua bán số lô, số đề.

Cơ quan điều tra đã tiến tiến hành đối chất với L, nhưng H4 vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Mặt khác đối với các tin nhắn từ số điện thoại 0386.268.200 của Đặng Thị Thanh H4 gửi đến số của L với nội dung “1” “2” “3” “4”, L khai H4 nhắn nội dung trên là đồng ý nhận bảng đề của L, tuy nhiên ngoài lời khai của L, quá trình điều tra không có căn cứ nào khác để xác định việc H4 đồng ý nhận bảng đề của L. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với Đặng Thị Thanh H4 về hành vi đánh bạc, cũng như các số lô, số đề L khai tự đánh với H4.

Đối với các đối tượng : H5, P1, Q1, và một số người lạ do L chỉ biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được. Tuy nhiên các số lô, số đề các đối tượng trên đánh bạc được tổng hợp trong bảng đề cơ quan điều tra đã thu giữ, vì vậy L phải chịu trách nhiệm đối với các số lô, số đề mà các đối tượng trên đã mua của L như trong biên bản giải trình số lô, số đề của L trước cơ quan điều tra.

Đối với Nguyễn Xuân D, tại cơ quan điều tra D không thừa nhận việc mua số lô, số đề của L. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa L và D, tuy nhiên D giữ nguyên lời khai của mình. Ngoài lời khai của L không có căn cứ nào khác để chứng minh việc Nguyễn Xuân D mua số lô, số đề của L.

Đối với Nguyễn Văn H2, quá trình xác minh, xác định: Ngày 12/12/2019, anh H2 bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng. Đến nay, H2 chưa nộp phạt, tuy nhiên hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, không có quyết định cưỡng chế đối với H2, cũng không có căn cứ thể hiện việc H2 cố tình trốn tránh. Tính đến nay Quyết định xử phạt VPHC đối với H2 đã quá thời hiệu thi hành. Lần đánh bạc này của H2 dưới 5.000.000 đồng nên không có cứ để truy cứu trách nhiệm hính sự đối với Nguyễn Văn H2 về hành vi đánh bạc.

Về hình thức đánh bạc các đối tượng đều khai nhận thống nhất như sau: căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày để xác định thắng, thua. Nếu người mua số đề, dây, đầu, đuôi,...trong dãy số tự nhiên từ 00 đên 99 mà trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì L phải trả cho người mua số tiền gấp 70 (Bảy mươi) lần số tiền họ mua số đề. Với số lô, nếu số lô người mua trong dãy số tự nhiên từ 00 đên 99 trùng với hai số cuối của một trong các giải kết quả xổ số thì L phải trả cho người mua 80.000 đồng /1 (một) điểm lô.

Về vật chứng, đồ vật tạm giữ quá trình điều tra đã xác định:

Đối với 02 tờ giấy khổ A4, trên hai tờ giấy có ghi các số, chữ bằng mực bút bi màu đen; 02 mảnh giấy có ghi các chữ, số bằng mực màu xanh và mực màu đen; 01 quyển vở kẻ ngang, L dùng tổng hợp bảng đề ngày 02/03/2023, cơ quan điều tra đã đưa vào trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ của vụ án.

Đối với vật chứng còn lại

- 01 chiếc bút bi màu đen, đã qua sử dụng;

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9; điện thoại gắn hai sim số 0387960469 và 0368237463 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; gắn sim số 0963753392 là của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc mua bán số lô, số đề.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J2 Pro; điện thoại gắn hai sim số 0348868136 và 0986143947 là của Nguyễn Thị Minh H1 sử dụng để mua bán số lô, số đề.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216, màu đen, điện thoại gắn sim số 0356171072 là của Nguyễn Mạnh Q sử dụng để mua bán số lô, số đề.

- Tiền ngân hàng N3 10.291.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc tự nguyện giao nộp (Nguyễn Văn H2 400.000 đồng; Đặng Quang S1 1.560.000 đồng; Nguyễn Văn H3 80.000 đồng; Nguyễn Thị Minh H1 7.501.000 đồng, Nguyễn Văn T4: 750.000 đồng).

Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKS.TB ngày 28/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị với Hội đồng xét xử như sau;

a) Về trách nhiệm hình sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 phạm tội “ Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 36 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Thị L 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 BLHS đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Minh H1 từ 25 triệu đến 30 triệu đồng.

Do đã áp dụng hình phạt chính phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H1.

b) Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47, 48 BLHS, khoản 1, 3 Điều 106 BLTTHS:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen là của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc mua bán số lô, số đề; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J2 Pro; là của Nguyễn Thị Minh H1 sử dụng để mua bán số lô, số đề; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216, màu đen là của Nguyễn Mạnh Q sử dụng để mua bán số lô, số đề cần tịch thu bán sung công quỹ nhà nước.

- Đối với: 01chiếc bút bi màu đen, đã qua sử dụng là công cụ để sử dụng vào việc đánh bạc; 03 sim số 0387960469; 0368237463 và 0963753392 đây là 03 sim của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc mua bán số lô, số đề; 02 sim số 0348868136 và 0986143947 là của Nguyễn Thị Minh H1 sử dụng để mua bán số lô, số đề; 01 sim số 0356171072 là của Nguyễn Mạnh Q sử dụng để mua bán số lô, số đề. Cần tịch thu cho tiêu hủy.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Tiền ngân hàng N3 9.541.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc tự nguyện giao nộp (Nguyễn Văn H2 400.000 đồng; Đặng Quang S1 1.560.000 đồng; Nguyễn Văn H3 80.000 đồng; Nguyễn Thị Minh H1 7.501.000 đồng).

- Trả lại cho Nguyễn Văn T4: 750.000 đồng.

- Truy thu của Nguyễn Xuân T3 160.000 đồng; Nguyễn Thị Minh H1 số tiền 39.000 đồng, Nguyễn Thị L: 13.932.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc để sung công quỹ nhà nước.

c)Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có lời bào chữa nào khác, không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho được hưởng loại hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ. Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận ngày 02/03/2023, tại nhà của mình ở khu I, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn L đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho các đối tượng Nguyễn Xuân T3, Nguyễn văn H6, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Mạnh Q, Đặng Quang S1, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Thị Minh H1 và một số người khác với tổng số tiền đánh bạc là 11.832.000 đồng, sau khi đã có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng lúc 18h15 cùng ngày, số tiền trúng thưởng là 11.840.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc Nguyễn Thị L phải chịu trách nhiệm là: 23.672.000 đồng. Đến khoảng 6h30 phút ngày 03/03/2023, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T phát hiện và thu giữ vật chứng liên quan.

Trong vụ án này, mặc dù Nguyễn Thị L khai làm thư ký đề và chuyển toàn bộ bảng đề cho Đặng Thị Thanh H4. Tuy nhiên, quá trình điều tra không có cơ sở để chứng minh việc L thỏa thuận để làm thư ký cho H4 và việc H4 nhận bảng lô, đề của L. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Thị L, Đặng Thị Thanh H4 về tội tổ chức đánh bạc. Trong vụ án này xác định: Ngày 02/03/2023, Nguyễn Thị Minh H1 đã mua số lô, số đề của Nguyễn Thị L với tổng số tiền là 7.540.000 đồng, sau khi có kết quả H1 trúng thưởng số tiền 8.800.000 đồng (số tiền trúng thưởng L chưa thanh toán cho H1). Tổng số tiền H1 đánh bạc với L là 16.340.000 đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ, vật chứng thu giữ được. Do vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 BLHS quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba để xét xử về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 là hoàn toàn có căn cứ.

. Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng xong hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đây cũng là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy vụ án cần được đưa ra xét xử nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét về vai trò, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này Nguyễn Thị L là vai trò chính để trực tiếp bán số lô, số đề và lập bảng thu lời bất chính. Nguyễn Thị Minh H1 là vai trò thứ 2 và trực tiếp đánh bạc với L.

Về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Vì vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Thị Minh H1 có bố đẻ là ông Nguyễn Văn N là người có công được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì và được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen kháng chiến và mẹ đẻ là bà Đỗ Thị T2 được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen kháng chiến. Bị cáo Nguyễn Thị L có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 là người có công với cách mạng được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen kháng chiến nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Xét thấy chỉ cần xử cho bị cáo Nguyễn Thị L hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Minh H1 chỉ cần áp dụng hình phạt tiền cũng đủ điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.

. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền để nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ xung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị L là phù hợp.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Minh H1 áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn T4, Nguyễn Xuân T3, Nguyễn Mạnh Q, Nguyễn Văn H3, Đặng Quang S1, Nguyễn Mạnh T6 và Nguyễn Văn H2 trong ngày 02/03/2023 đều đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, qua xác minh nhân thân các đối tượng đều không có tiền án tiền sự về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Nên cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với Đặng Thị Thanh H4, Nguyễn Xuân D cũng như H5, P1, Q1 quá trình điều tra không có căn cứ để xử lý về hành vi đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an huyện T sẽ tiếp tục xác minh và làm rõ khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với số tiền 10.291.000 đồng do bị cáo H1 và các đối tượng giao nộp: Trong đó có Nguyễn Văn T4 giao nộp 750.000đ xét thấy đây là khoản tiền của T4 không tham gia vào việc phạm tội cần tuyên trả lại cho Nguyễn Văn T4 là phù hợp. Số tiền còn lại là 9.541.000đ là tiền mà các đối tượng sử dụng phục vụ vào việc đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ nhà nước (Nguyễn Văn H2 400.000 đồng; Đặng Quang S1 1.560.000 đồng; Nguyễn Văn H3 80.000 đồng; Nguyễn Thị Minh H1 7.501.000 đồng).

- Đối với số tiền đánh bạc của bị cáo cũng như người liên quan chưa nộp cần truy thu để sung công quỹ nhà nước cụ thể như sau: Bị cáo Nguyễn Thị L là 13.932.000đ, bị cáo Nguyễn Thị Minh H1 39.000đ, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Xuân T3 là 160.000đ.

- Đối với: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9; số seri R58KC2E0SQJ; số IMEI 1: 359933098388753, số IMEI 2: 359934098388751; và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; số IMEI 1: 358980094926731, IMEI 2: 358980099926736 là của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc mua bán số lô, số đề; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J2 Pro; số seri R58K10VGH1A; số IMEI 1: 354802092395400, số IMEI 2: 354803092395408 là của Nguyễn Thị Minh H1 sử dụng để mua bán số lô, số đề và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216, màu đen, số sêri 1: 356974091616611, số sêri 2: 356974096616616 là của Nguyễn Mạnh Q sử dụng để mua bán số lô, số đề cần tịch thu bán sung công quỹ nhà nước.

- Đối với: 01chiếc bút bi màu đen, đã qua sử dụng là công cụ để sử dụng vào việc đánh bạc; 03 sim số 0387960469; 0368237463 và 0963753392 đây là 03 sim của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc mua bán số lô, số đề; 02 sim số 0348868136 và 0986143947 là của Nguyễn Thị Minh H1 sử dụng để mua bán số lô, số đề; 01 sim số 0356171072 là của Nguyễn Mạnh Q sử dụng để mua bán số lô, số đề. Xét không còn giá trị cần tịch thu cho tiêu hủy.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy: Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là hoàn toàn đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 35 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thị Minh H1.

[2] Về Tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. Giao Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự và các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị Minh H1 25 (hai mươi lăm) triệu đồng sung công quỹ nhà nước.

Miễn hình phạt bổ xung là hình phạt tiền cho bị cáo Nguyễn Thị L.

[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền 9.541.000đ (chín triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

- Trả lại cho Nguyễn Văn T4 số tiền 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

- Tịch thu bán nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A9; số seri R58KC2E0SQJ; số IMEI 1: 359933098388753, số IMEI 2: 35993409838875 và 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; số IMEI 1: 358980094926731, IMEI 2: 358980099926736 là của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc mua bán số lô, số đề; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J2 Pro; số seri R58K10VGH1A; số IMEI 1: 354802092395400, số IMEI 2: 354803092395408 là của Nguyễn Thị Minh H1 sử dụng để mua bán số lô, số đề; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216, màu đen, số sêri 1: 356974091616611, số sêri 2: 356974096616616 là của Nguyễn Mạnh Q sử dụng để mua bán số lô, số đề.

- Tịch thu cho tiêu hủy 01chiếc bút bi màu đen, đã qua sử dụng là công cụ để sử dụng vào việc đánh bạc; 03 sim số 0387960469; 0368237463 và 0963753392 đây là 03 sim của Nguyễn Thị L sử dụng liên lạc mua bán số lô, số đề; 02 sim số 0348868136 và 0986143947 là của Nguyễn Thị Minh H1 sử dụng để mua bán số lô, số đề; 01 sim số 0356171072 là của Nguyễn Mạnh Q sử dụng để mua bán số lô, số đề.

(Toàn bộ số tiền cùng những vật chứng trên hiện đang bị tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T và có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba có lưu trong hồ sơ vụ án).

Bị cáo Nguyễn Thị L còn phải nộp 13.932.000đ (mười ba triệu chín trăm ba mươi hai nghìn đồng); bị cáo Nguyễn Thị Minh H1 còn phải nộp 39.000đ (ba mươi chín nghìn đồng). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Xuân T3 còn phải nộp 160.000đ (một trăm sáu mươi nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.

[4] Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12//2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Thị Minh H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ