vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Tòng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất a túy”.

Áp dụng: Đi m c khoản 1 Điều 249; đi m s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tòng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Tòng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất a túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55 /2023 /HS-ST
Ngày: 19/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuấn

2. Ông Dương Viết Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

P t nh Thái Nguy n.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia

phiên tòa: Ông Lưu Nguy n Vũ; Chức vụ: i sát vi n.

H nay ng y 19 tháng 4 nă 2023 tại hội trường xét xử Tòa án nhân

dân huyện P t nh Thái Nguy n t ử sơ th c ng khai vụ án h nh sự thụ lý số 33/2023 TLST-HS ng y 21 tháng 3 nă 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44 /2023 QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 nă 2023 đối với ị cáo:

- Họ và tên: Tòng Văn M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

- Sinh ngày 17 tháng 7 nă 1995 tại: Lai Châu.

- Nơi Đ TT: Bản P, xã N, huyện T, t nh Lai Châu.

Nơi ở: Tổ dân phố L, phường H, thành phố P, t nh Thái Nguyên

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp:

Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền đo n th ): Không; Tr nh độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông: Tòng Văn sinh nă 1967; Con bà: Tòng Thị P sinh nă 1961; Gia đ nh có 3 anh, em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Lò Thị X sinh năn 1994; Có 02 con, con lớn sinh nă 2015, con nhỏ sinh nă 2018.

- Tiền án: Không;

- Tiền sự: Tại Quyết định ử phạt vi phạ h nh chính số 170 QĐ –

XPHC ng y 11 8 2022 của C ng an huyện gia Lâ th nh phố H Nội phạt Tòng Văn M số tiền 3.500.000đ về h nh vi t ng trữ trái ph p chất a túy. Hiện nay Mong chưa nộp phạt.

- Nhân thân: Tại Quyết định ử phạt vi phạ h nh chính số 07 ngày

12/12/2022, Công an xã N, huyện T, t nh Lai Châu ử phạt cảnh cáo về h nh vi sử dụng trái ph p chất a túy.

Hiện bị cáo đang ị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Thái

Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2022). (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung

tâm trợ giúp pháp lý t nh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: 1. Ông Dương Văn P sinh nă 1975;

Trú tại: Xóm H, xã T, huyện P, t nh Thái Nguyên (Vắngmặt tại phiên tòa).

2. Ông Dương Quốc O, sinh nă 1967;

Trú tại: Xóm V, xã T, huyện P, t nh Thái Nguyên. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2022, tổ công tác của Công an xã T,

huyện P cùng C ng an ã Đ o Xá huyện P, t nh Thái Nguyên trong khi phối hợp tuần tra đảm bảo án ninh trật tự tại khu vực Xóm V, xã T, huyện P, t nh Thái Nguyên thì phát hiện một nam thanh niên có bi u hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu ki m tra, người đ n ng này khai tên là Tòng Văn M đồng thời Mong tự giác giao nộp từ túi áo khoác bên trái đang ặc 01 túi nilon màu trắng được dán ngoài bằng ăng dính u đen bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Mong khai nhận đó là ma túy Heroine do Mong vừa mua đ sử dụng cho bản thân. Tổ c ng tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tòng Văn M v ni phong thu giữ vật chứng (ký hiệu A). Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Mong 01 e đạp màu trắng.

Hồi 18 giờ 00 phút cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P

tiến hành mở ni ni phong cân ác định khối lượng số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A thu giữ của Mong có khối lượng 0,164 gam cho bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giá định.

Tại kết luận giá định số 127/ KL-KTHS ngày 02/01/2023 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an t nh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giá định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,164 gam.

Tại Cơ quan điều tra Tòng Văn M khai nhận: Mong là người nghiện ma

túy. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 25/12/2022 Mong đi e đạp của Mong từ phòng trọ ở Tổ dân phố L, phường H, thành phố P đến khu vực Xóm V, xã T, huyện P đ tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây Mong gặp và mua của một người đ n ng (kh ng rõ lai lịch địa ch ) 01 gói a túy Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng được dán ngoài bằng ăng dính u đen với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Mong cất vào túi áo khoác bên trái đang ặc sau đó đi về t nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã T phối hợp với C ng an ã Đ o Xá, huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,154

gam mẫu A1 còn lại sau giá định và vỏ bao gói mẫu; 01 e đạp màu trắng có lắp lồng xe.

Vật chứng hiện được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự

huyện P chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSNDHPB ngày 21/3/2023 của Viện ki m

sát nhân dân huyện P, t nh Thái Nguyên truy tố Tòng Văn M về tội “T ng trữ trái phép chất a túy” theo đi m c khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của

nh v ác định Cáo trạng Viện ki m sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.

Trong phần tranh luận đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện P luận tội

bị cáo v đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tòng Văn M phạm tội “T ng trữ trái phép chất a túy”. Áp dụng đi m c khoản 1 Điều 249; đi m s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Tòng Văn M từ 36 đến 42 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên trong

có chứa 0,154 gam mẫu A1 còn lại sau giá định và vỏ bao gói mẫu;

Tịch thu sung quỹ nh nước 01 e đạp màu trắng của bị cáo.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; đi đ khoản 1 Điều 12 Nghị

quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, miễn cho bị cáo 200.000đ án phí hình sự sơ th m.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận: Nhất trí với cáo trạng của

Viện ki m sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Tòng Văn M về tội “T ng trữ trái phép chất a túy” theo đi m c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo

quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là thành kh n khai áo theo quy định tại đi m s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt: Mức hình phạt đại diện V S đề nghị đối với bị cáo từ 36

đến 42 tháng tù là nghiêm khắc so với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được th m tra tại phiên tòa, buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt là từ 24 đến 30 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng đi đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết

326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ quốc hội miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội

đồng xét xử e

t cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tr n cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được th m tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện

P Điều tra viên; Viện ki m sát nhân dân huyện P, Ki m sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử kh ng đặt ra xem xét.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của ị cáo Tòng Văn M tại phi n tòa l khách quan phù hợp với

các lời khai của ị cáo tại cơ quan điều tra i n ản ắt người phạ tội quả tang kết luận giá định lời khai của người chứng kiến vật chứng thu giữ v các t i liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ ác định.

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 25/12/2022 tại khu vực Xóm V, xã T, huyện P,

t nh Thái Nguyên, Tòng Văn M đang có h nh vi t ng trữ 0,164 gam ma túy loại Heroine mục đích đ sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã T phối hợp cùng C ng an ã Đ o Xá huyện P phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Nội dung điều 249 BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)

...

c) Herroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy h nh vi của ị cáo đã đủ yếu tố cấu th nh tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy” theo quy định tại đi c khoản 1 Điều 249 Bộ luật h nh sự. Viện ki sát nhân dân huyện P t nh Thái Nguy n truy tố ị cáo l có căn cứ đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo

trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nh nước đối với các chất ma túy. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị

cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân ấu đã 02 lần ị ử phạt vi phạ h nh chính về h nh

vi sử dụng trái ph p chất a túy v t ng trữ trái ph p chất a túy. Trong quá tr nh điều tra truy tố t ử ị cáo đã th nh kh n khai áo ăn năn hối cải. V vậy ị cáo được hưởng t nh tiết giả nhẹ quy định tại đi s khoản 1 và Điều 51 Bộ luật h nh sự. Bị cáo không phải chịu t nh tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.

[4]. Về hình phạt: Sau khi e

t đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có mức án nghiêm khắc đ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Tuy nhiên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo đi m s khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt từ 36 đến 42 tháng tù mà đại diện Viện ki m sát nhân dân huyện P đề nghị khi luận tội là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, công

việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản g đ đảm bảo thi hành án, do đó kh ng áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106

Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1 bên

trong có chứa 0,154 gam mẫu A1 còn lại sau giá định và vỏ bao gói mẫu đây là vật li n quan đến việc phạm tội nh nước cấm sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuy n…nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với vật chứng là 01 e đạp màu trắng của bị cáo đã sử dụng vào việc

việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nh nước.

[6] Về án phí quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo n n được

iễn án phí h nh sự sơ th theo quy định tại đi n đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326. Bị cáo có quyền kháng cáo ản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với số ma túy đã thu giữ, Tòng Văn M khai mua của 01 người đ n

ông không quen biết ở khu vực Xóm V, xã T, huyện P, t nh Thái Nguyên. Quá tr nh điều tra kh ng ác định được lai lịch địa ch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P kh ng có cơ sở điều tra l rõ đ xử lý.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Tòng Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất a túy”.

Áp dụng: Đi m c khoản 1 Điều 249; đi m s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của

Bộ luật hình sự;

1. Xử phạt: Tòng Văn M 36 (Ba ươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ

ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Tạm giam bị cáo 45 (Bốn ươi lă )

ngày k từ ng y tuy n án sơ th đ đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS Điều 106 BLTTHS;

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu

đỏ ký hiệu A1 ngo i thư có ghi ho n trả 0,154 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giá định vụ Tòng Văn M sinh nă 1986.

- Tịch thu sung quỹ nh nước của bị cáo 01 e đạp màu trắng, có lắp lồng

xe, yên xe bị rời e cũ đã qua sử dụng

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 / 4

/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).

3.Về án phí: 3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; đi đ khoản 1

Điều 12 Nghị quyết 326 2016 QH ng y 30 12 2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn cho bị cáo Tòng Văn M 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo được quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ng y k từ ng y

tuyên án /.

Cỡ chữ