- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Sùng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 55/2023/HS-ST Ngày 19-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng Văn Toàn và ông Vi Văn Thuy
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện M, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Thương, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Sùng A C, sinh năm 1976 tại huyện M, tỉnh Điện Biên.
Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không biết chữ.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Sùng Chứ L, đã chết; Con bà: Vàng Thị M, đã chết.
Bị cáo có vợ Cháng Thị M, sinh năm 1983 và 03 con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án: Có ba tiền án, ngày 16/8/2012, Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 26 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 08/7/2015, Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 34 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 23/7/2018, Tòa án nhân dân huyện M xử phạt bị cáo Sùng A C 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 07/01/2023 ra trại.
Tiền sự: Không,
Nhân thân: Ngày 17/5/2004, Tòa án nhân dân huyện Mường Lay, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 04/5/2023, tạm giam ngày 12/5/2023 đến ngày xét xử, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Sùng A C: Ông Lý A C, sinh năm 1977, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/5/2023, Sùng A C mang theo số tiền 2.000.000 đồng đi bộ từ nhà ở bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên với mục đích thăm người thân Giàng Thị C ở bản P1, xã Pá Mỳ, huyện M, tỉnh Điện Biên. Khi bị cáo đến bản N, xã P, huyện N thì gặp và mua được 03 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch với giá 1.800.000 đồng. Mua được Heroine, bị cáo cất giấu trong túi áo ngực đang mặc rồi đi xe khách đến bản Q, xã Q, huyện M. Đến đây, bị cáo xuống xe đi bộ đến nhà Giàng Thị C. Trước khi vào nhà Giàng Thị C thì bị cáo cất giấu số Heroine mua được ở khu vực rừng gần nhà C để mỗi ngày bị cáo đến lấy ra sử dụng. Sáng ngày 04/5/2023, Sùng A C đi về và lấy số Heroine cất giấu còn lại ở rừng cho vào túi áo mặc trên người đi bộ ra đường bắt xe khách về nhà. Đến 12 giờ 25 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đi bộ trong khu vực bản Pthì bị tổ công tác Công an huyện M kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng tạm giữ của bị cáo 03 gói ni lông trong suốt bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng thể rắn nghi là Heroine khối lượng 9,53 gam.
Cáo trạng số 39/CT-VKS-MN ngày 10/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Sùng A C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Sùng A C từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo mức đề nghị thấp nhất của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện M tỉnh Điện Biên và Luận cứ bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ 30 phút ngày 04/5/2023 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Sùng A C bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an huyện M đã tạm giữ của bị cáo 03 gói ni lông trong suốt bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng thể rắn nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 08 giờ 30 phút ngày 05/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bút lục số 24, 25 thì tổng khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Sùng A C là 9,53 gam nghi Heroine trích 0,57 gam gửi đi giám định; trích 0,43 gam dùng test nhanh chất ma túy. Vật chứng còn lại 8,53 gam.
Kết luận giám định số 735/KL-KTHS ngày 11/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 30 đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Sùng A C là 9,53 gam. Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Sùng A C gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Sùng A C có tội. Bị cáo đi mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sùng A C có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng ma túy bị thu giữ của Sùng A C là 9,53 gam Heroine. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 05 gam đến dưới 30 gam. Ngày 23/7/2018, Tòa án nhân dân huyện M xử phạt bị cáo Sùng A C 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 07/01/2023 ra trại. Ngày 04/5/2023 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian Ca được xóa án tích của bản án nói trên. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự thì hành vi của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm và định khung hình phạt theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo rất nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Sùng A C sinh sống tại xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người nghiện ma túy nhiều năm nhưng Ca sử dụng các biện pháp cai nghiện. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử với các hình phạt nghiêm khắc nhưng không lấy đó làm kinh nghiệm cho bản thân, trái lại bị cáo liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội sau khi đã chấp hành xong hình phạt tù.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Đối chiếu các quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo mức đề nghị thấp nhất của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Sùng A C.
Về vật chứng:
Vật chứng 9,53 gam nghi Heroine trích 0,57 gam gửi đi giám định; trích 0,43 gam dùng test nhanh chất ma túy. Vật chứng còn lại 8,53 gam và 01 mảnh ni lông trong suốt cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các vấn đề khác:
Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g, điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A C 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 04/5/2023.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 8,53 gam Heroine và 01 mảnh nilon trong suốt là vật chứng còn lại sau khi gửi giám định và test nhanh ma túy. Vật chứng được đựng trong 01 phong bì công văn niêm phong của Công an huyện M có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 09 giờ 00 phút ngày 12/8/2023 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Sùng A C.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Sùng A C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 19/9/2023.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện M; - Nhà tạm giữ Công an huyện M; - Cơ quan CSĐT Công an huyện M; - Bộ phận HSNV Công an huyện M; - Cơ quan THAHS Công an huyện M - Chi cục THADS huyện M; - Bị cáo, người bào chữa; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |