vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn N 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/02/2023. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phan Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST
Ngày: 12-9-2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Bích Hằng;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Mỹ Hạnh.

2. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Kim Anh, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành tham gia phiên toà: Ông Lê Công Tiến, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2023/HSST ngày 23 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Văn N, sinh ngày: 24-12-1998, tại Tây Ninh; nơi cư trú: Tổ 1, ấp Phước Hòa, xã Phước Vinh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C, sinh năm: 1969 và bà Trần Kim L, sinh năm: 1968; vợ Đinh Thị Thùy T, sinh năm: 1997; con sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 06/02/2023, tạm giam ngày 15/02/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 55 phút, ngày 06/02/2023, lực lượng Công an xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, kiểm tra nhà không số thuộc tổ 18, ấp Trường An, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh do Phan Văn N thuê ở trọ, phát hiện N đang cất giấu trong túi quần phía sau bên trái 01 (một) cái bóp màu đen, bên trong có 05 (năm) bịch nylon loại bóp dính miệng có chứa chất tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu M.

Qua điều tra xác định: Phan Văn N là đối tượng sử dụng ma túy. Để có ma túy sử dụng, N mua ma túy của một người tên “Đ” và “T” (không rõ nhân thân, địa chỉ) đem về nhà sử dụng một ít, số còn lại phân ra nhiều bịch nhỏ để bán cho người khác lấy tiền tiêu xài và tiếp tục mua ma tuý. Cụ thể, trong tháng 12/2022 (không nhớ ngày cụ thể), N đã nhiều lần bán ma tuý cho các đối tượng gồm: bán cho Lê Thị Thảo V, sinh năm 2001, ngụ: ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 01 (một) bịch ma túy với giá 600.000 đồng; bán cho Dương Hà Duy T, sinh năm 1994, ngụ: ấp Long Hải, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 05 (năm) lần, mỗi lần một bịch ma tuý giá từ 200.000 đồng đến 600.000 đồng. Vào đầu tháng 02/2023 (không nhớ ngày), N bán ma tuý cho Trần Hữu P, sinh năm 2003, ngụ: ấp Trường An, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh 03 (ba) lần, mỗi lần một bịch ma tuý với giá từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Ngoài ra, trong ngày 06/02/2023, N bán cho người tên G (không rõ nhân thân, địa chỉ) 01 (một) bịch ma túy với giá 200.000 đồng; bán cho người tên G (không rõ nhân thân, địa chỉ) 01 (một) bịch ma túy với giá 500.000 đồng; bán cho người tên G (không rõ nhân thân, địa chỉ), 01 (một) bịch ma túy đá với giá 250.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị can đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình, bị can tự khai ra những lần phạm tội trước đó.

Tại Kết luận giám định số 186, ngày 09/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 05 (năm) bịch nylon loại bóp dính miệng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 1,4324 gam.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bảng thống kê kèm theo.

* Qua xác minh bị can không có tài sản nên không kê biên.

Tại bản cáo trạng số: 41/CT-VKSHT ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành đã truy tố bị cáo Phan Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn N từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo N.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phan Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo N nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã vi phạm pháp luật. Thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Ngày 06/02/2023, tại nhà không số thuộc tổ 18, ấp Trường An, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, qua khám xét Công an phát hiện Phan Văn N đang cất giấu 1,4324 gam chất ma túy loại Methamphetamine để bán cho người khác sử dụng. Qua điều tra xác định từ tháng 12/2022 đến tháng 6/2023, Phan Văn N đã bán trái phép cho Lê Thị Thảo V một lần, 01 bịch ma tuý với giá 600.000 đồng; bán cho Dương Hà Duy T năm lần, mỗi lần 01 bịch ma tuý với giá 200.000 đồng đến 600.000 đồng; bán cho Trần Hữu P ba lần, mỗi lần một bịch ma tuý với giá từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận bị cáo Phan Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện, gây hậu quả xấu về nhiều mặt cho xã hội, nên phải nghiêm trị. Bị cáo N đã mua bán trái phép chất ma túy mà Nhà nước cấm nhiều lần. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phan Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tòa án cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và phòng chống tội phạm. Khi nghị án Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo N không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Hành vi sử dụng ma tuý của Phan Văn N, Lê Hữu P (mua ma tuý của N sử dụng), đã Công an xã Trường Tây xử phạt hành chính là có căn cứ. Những người tên “Đ”; “T” bán ma túy cho N; “G”, “G” và “G” mua ma tuý của N, hiện chưa xác định được, khi nào làm rỏ xử lý sau. Đối với Lê Thị Thảo V và Dương Hà Duy T, hiện đang bị xử lý trong vụ án khác.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 186, có chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh. Khối lượng sau giám định: M: 1,3883 gam (một phẩy ba tám tám ba gam); Kèm theo Kết luận giám định số 186/KL-KLHS, ngày 09-02-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) cân điện tử có vỏ bằng nhựa, màu đen, đã qua sử dụng;

+ 20 (hai mươi) ống thủy tinh màu trắng, dài 20cm, chưa qua sử dụng;

+ 04 (bốn) bịch ni lông có đựng nhiều bịch nylon nhỏ màu trắng, chưa qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Ngộ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, model A51, màu xanh, số Imei 1: 352353114160879/1, số Imei 2: 352354114160877/1, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobistar, màu đen viền đỏ, số Imei: 352217022322691, đã qua sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phan Văn N 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/02/2023.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phan Văn N.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 186, có chữ ký của giám định viên, trợ lý giám định và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh. Khối lượng sau giám định: M: 1,3883 gam (một phẩy ba tám tám ba gam); Kèm theo Kết luận giám định số 186/KL-KLHS, ngày 09-02-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh.

+ 01 (một) cân điện tử có vỏ bằng nhựa, màu đen, đã qua sử dụng;

+ 20 (hai mươi) ống thủy tinh màu trắng, dài 20cm, chưa qua sử dụng;

+ 04 (bốn) bịch ni lông có đựng nhiều bịch nylon nhỏ màu trắng, chưa qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Ngộ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy, model A51, màu xanh, số Imei 1: 352353114160879/1, số Imei 2: 352354114160877/1, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobistar, màu đen viền đỏ, số Imei: 352217022322691, đã qua sử dụng.

3. Về án phí: Bị cáo PhanVăn N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ