vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh phạm tội: "Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn D cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh phạm tội: "Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST
Ngày 30/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Khánh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tâm;

2. Ông Phạm Đức Tuế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Huế – Thư ký Tòa án nhân dân Hện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Hện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 30/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2023/TLST- HS ngày 18 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Tuấn D (Không có tên gọi khác), sinh năm 1982, tại Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm LT, xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn Cứu và bà Nguyễn Thị Mai; có vợ là L Thị Quỳnh, sinh năm 1986 (đã ly hôn); có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 10/02/2023 hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

2. Họ và tên: Lương Ngọc H (Không có tên gọi khác), sinh năm 1993, tại Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm LT, xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Ngọc Hưng và bà Dương Thị Hương; có vợ là Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 1996; có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 10/02/2023 hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

3. Họ và tên: Nguyễn Tuấn L (Không có tên gọi khác), sinh năm 1990, tại Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm LT, xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn Cứu và bà Nguyễn Thị Mai; có vợ là L Thị Thanh Trang, sinh năm 1993; có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 10/02/2023 hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

4. Họ và tên: Nguyễn Văn M (Không có tên gọi khác), sinh năm 1999, tại Hện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Nơi cư trú: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Tân Lập, thị trấn Đu, Hện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Cương (đã chết) và bà Hoàng Thị Liễu có vợ là Tô Thị Thu Hoài, sinh năm 2000; có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 10/02/2023 hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

5. Họ và tên: Nguyễn Tuấn A (Không có tên gọi khác), sinh năm 1989, tại Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đồng Tiến, xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh Lạc và bà Nguyễn Thị Liên; có vợ là Khuông Thị Hương, sinh năm 1995; có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2023 đến ngày 10/02/2023 hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

- Người chứng kiến:

1. Anh Lương Văn Xuân, sinh năm 1975;

Địa chỉ: Xóm LT, xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(vắng mặt)

2. Ông Đỗ Văn Hải, sinh năm 1960

Địa chỉ: Xóm LT, xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 07/02/2023, tổ công tác của Công an Hện Định Hoá đã phát hiện, bắt quả tang tại phòng thờ tầng 2 nhà ở của gia đình Nguyễn Tuấn D thuộc xóm LT, xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên có 04 đối tượng gồm: Nguyễn Tuấn L; Lương Ngọc H; Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Văn M đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” sát phạt nhau bằng tiền.

Vật chứng thu giữ gồm: 52 quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc chiếu mành đã cũ; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ trên chiếu nơi các đối tượng đánh bạc là 5.370.000 đồng (năm triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng). Ngoài ra, không thu giữ gì thêm. Tổ Công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong vật chứng và đưa các đối tượng về Công an Hện Đ để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Hình thức đánh “Ba cây” sát phạt nhau bằng tiền là hình thức đánh bạc, dụng cụ dùng để đánh bạc là bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài nhưng loại bỏ các quân bài 10, J, Q, K, các quân bài còn lại được sử dụng gồm 36 quân, từ quân bài Át (A) tới 9, trong đó Át (A) được tính là 1 điểm, các quân bài còn lại từ 2 (Hai) đến 9 (Chín) được tính với số điểm tương đương. Khi chơi một người làm chương để chơi với những người còn lại, mỗi ván người làm chương chia cho mỗi người chơi 03 lá bài để cộng điểm. Tổng 10 điểm là cao nhất, trong trường hợp tổng điểm của 3 cây bài cộng lại lớn hơn 10 sẽ lấy hàng đơn vị làm kết quả để so bài, nếu có người chơi được 10 điểm và cao hơn điểm mọi người chơi thì sẽ được cướp cái (làm Chương). Nếu điểm bằng nhau thì so sánh tới chất, cách so sánh sẽ là chất trước (rô > cơ > tép > bích), sau đó mới đến điểm của quân bài to nhất (9 > 8 > 7 > 6 > 5 > 4 > 3 > 2 > A). Tuy nhiên, Át rô là to nhất còn Át cơ, Át tép và Át bích vẫn nhỏ hơn 2. Ai cao điểm hơn người cầm cái sẽ được người cầm cái trả số tiền tương ứng với số tiền đặt cược và ngược lại. Mỗi lần chia bài được tính là một ván chơi.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/02/2023, khi Nguyễn Tuấn D đang ở nhà thì có Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Tuấn L, Lương Ngọc H và Nguyễn Văn M đến chơi, uống nước. Sau đó, cả năm người cùng nảy sinh ý định đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Ba cây” mọi người bảo D đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân về để làm dụng cụ đánh bạc. Sau khi D mua bài, cả 05 người cùng đi lên phòng thờ trên tầng 02 nhà ở của D và ngồi xuống chiếc chiếu mành đã được trải sẵn để đánh bạc. Mức độ sát phạt mỗi ván là từ 10.000 đồng trở lên, nếu ai được 10 điểm thì sẽ được nhân đôi số tiền. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Văn M, Lương Ngọc H và Nguyễn Tuấn L, ngồi thành vòng để đánh bài, còn Nguyễn Tuấn D ngồi sau M và tham gia đánh bạc bằng hình thức “Gửi cửa” bài của M, tức là lấy bài của M để đánh với người “Cầm chương”, nếu bài của M cao hơn bài của người cầm chương thì D thắng cược, nếu bài của M thấp hơn bài của người cầm chương thì D thua cược. Khi đánh bạc, M không cầm chương, nếu bài M được 10 điểm và cướp chương thì M sẽ chỉ định người cầm chương ván tiếp theo. Đánh đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì Nguyễn Tuấn D bị thua hết tiền nên không đánh nữa và đi xuống phòng khách, còn lại Tuấn Anh, L, H và M vẫn tiếp tục đánh bạc.

Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Tuấn D có số tiền khoảng 400.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc D bị thua hết tiền và đã nghỉ trước khi Công an bắt quả tang; Lương Ngọc H khi đánh bạc có số tiền khoảng 2.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Tuấn Anh khi đánh bạc có số tiền khoảng 700.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Tuấn L khi đánh bạc có số tiền 1.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Văn M khi đánh bạc có số tiền khoảng 900.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an Hện Đ đã phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 52 quân bài tú lơ khơ niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B; 01 chiếc chiếu mành đã qua sử dụng; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam 5.370.000 đồng (Năm triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng), hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự chờ xử lý.

Với hành vi nêu trên, Cáo trạng số: 41/CT- VKSĐH ngày 16/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hện Đ đã nêu. Các bị cáo khai trong qua trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình. Các bị cáo biết hành vi đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật, bị Viện kiểm sát nhân dân Hện Đ truy tố về tội đánh bạc là không oan, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, các bị cáo đã thành khẩn khai báo,

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố với các bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh phạm tội: “Đánh bạc”.

Về hình phạt chính đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Giao các bị cáo cho địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.370.000 đồng (năm triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 01 chiếc chiếu mành đã qua sử dụng;

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

Phần tranh luận, đối đáp: Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người chứng kiến. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia tố tụng nhưng người chứng kiến vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về sự vắng mặt của họ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đ đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Quá trình điều tra, những người vắng mặt không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người chứng kiến là anh Lương Văn Xuân và ông Đỗ Văn Hải theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, về số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc bị thu giữ. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội qủa tang và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/02/2023, khi Nguyễn Tuấn D đang ở nhà thì có Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Tuấn L, Lương Ngọc H và Nguyễn Văn M đến chơi, uống nước. Sau đó, cả 05 người cùng nảy sinh ý định đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “Ba cây”, mọi người bảo D đi mua 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân về để làm dụng cụ đánh bạc. Sau khi D mua bài, cả 05 người cùng đi lên phòng thờ trên tầng 02 nhà ở của D và ngồi xuống chiếc chiếu mành đã được trải sẵn để đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền. Mức độ sát phạt mỗi ván là từ 10.000 đồng trở lên, nếu ai được 10 điểm thì sẽ được nhân đôi số tiền. Quá trình đánh bạc, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Văn M, Lương Ngọc H và Nguyễn Tuấn L, ngồi thành vòng để đánh bài, còn Nguyễn Tuấn D ngồi sau M và tham gia đánh bạc bằng hình thức “Gửi cửa” bài của M, tức là lấy bài của M để đánh với người “Cầm chương”, nếu bài của M cao hơn bài của người cầm chương thì D thắng cược, nếu bài của M thấp hơn bài của người cầm chương thì D thua cược. Khi đánh bạc, M không cầm chương, nếu bài M được 10 điểm và cướp chương thì M sẽ chỉ định người cầm chương ván tiếp theo. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì Nguyễn Tuấn D bị thua hết tiền nên không đánh nữa và đi xuống phòng khách, còn lại Tuấn Anh, L, H và M vẫn tiếp tục đánh bạc.

Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Tuấn D có số tiền khoảng 400.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc. Quá trình đánh bạc D bị thua hết tiền và đã nghỉ trước khi Công an bắt quả tang; Lương Ngọc H khi đánh bạc có số tiền khoảng 2.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Tuấn Anh khi đánh bạc có số tiền khoảng 700.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Tuấn L khi đánh bạc có số tiền 1.000.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc; Nguyễn Văn M khi đánh bạc có số tiền khoảng 900.000 đồng và sử dụng toàn bộ để đánh bạc.

Các đối tượng đánh bạc đến 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an Hện Đ đã phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án gồm: 52 quân bài tú lơ khơ niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B; 01 chiếc chiếu mành đã qua sử dụng; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam 5.370.000 đồng (Năm triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự Hện Đ chờ xử lý.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định.

Điều 321: Tội đánh bạc:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng triệu đồng”.

Về tính chất, hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo trong vụ án:

Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý trật tự xã hội, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống tôi phạm của toàn xã hội, xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Tuấn D là người đi mua bộ bài tú lơ khơ để các bị cáo khác cùng thực hiện hành vi đánh bạc. Do đó bị cáo Nguyễn Tuấn D có vai trò cao hơn trong vụ án. Các bị cáo, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh đều thực hiện hành vi với lỗi cố ý.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều “ thành khẩn khai báo và ăn năn, hối cải” do đó các bị cáo đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách triệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng. Nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, cho cáo bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Mục đích của các bị cáo đánh bạc nhằm sát phạt nhau bằng tiền, nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là cần thiết và phù hợp, đúng pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

- Số tiền 5.370.000 đồng (năm triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 01 chiếc chiếu mành đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với từng bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh phạm tội: "Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn D 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo D thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L và Nguyễn Tuấn Anh mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã PT, Hện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo H, L, Tuấn Anh thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Đu, Hện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo M thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.370.000 đồng (năm triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng) các bị cáo dùng đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; 01 chiếc chiếu mành đã qua sử dụng.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 16/5/2023, giữa Công an Hện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự Hện Đ; Ủy nhiệm chi số 16, ngày 18/5/2023 giữa Công an Hện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự Hện Đ).

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Tuấn D, Lương Ngọc H, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Văn M và Nguyễn Tuấn Anh mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ