vanban.org

Bản án 55/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 10/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Hải V.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Đình T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt. Về án phí: Bị cáo Đặng Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Hải V.
  • Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-PT
Ngày 10-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông K’Tiêng

Các Thẩm phán: Ông Lương Đức Dương và ông Nguyễn Hồng Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo: Đặng Đình T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo phần trách nhiệm dân sự đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.

Bị cáo kháng cáo:

Đặng Đình T, sinh năm: 1973 tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nơi ở hiện nay: Khu phố B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đình S và bà Nguyễn Thị Kh (Đều đã chết); Có vợ là Bùi Thị N (đã ly hôn), chưa có con; đang tại ngoại - Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Vương Hải V, địa chỉ: Bon P, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Vương Hải V: Ông Nguyễn Văn T – Luật sư thuộc Công ty L- thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đắk Nông – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 11h00’ ngày 22/5/2022, Đặng Đình T đến nhà ông Vương Hải V mượn xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 48A-115.78 của ông V để làm phương tiện đi lại, thì ông V đồng ý (T đã có giấy phép lái xe hạng B2).

Đến khoảng 19h20’ cùng ngày, T điều khiển xe BKS 48A-115.78 lưu thông trên đường Tôn Đức Thắng theo hướng từ chợ Gia Nghĩa thuộc tổ dân phố 1, phường N, về hướng vòng xuyến Bắc Nam. Khi đi đến đoạn đường phía trước cửa Siêu thị điện máy Chợ lớn, do thiếu quan sát và đi không đúng làn đường và không làm chủ tốc độ nên T điều khiển xe ô tô đâm vào xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, BKS 48A-147.70 do anh Nguyễn Đức B điều khiển đang dừng sát mép đường bên phải phía trước cùng chiều. Hậu quả: 02 xe ô tô bị hư hỏng nặng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐG ngày 15/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự TP. Gia Nghĩa, kết luận 01 xe ô tô con BKS 48A-147.70, nhãn hiệu MADZA, số loại MADZA CX3, sản xuất năm 2022, màu sơn đỏ, bị hư hỏng các bộ phận sau: 01 cản sau, 01 kính chắn gió phải trước có cảnh báo lệch làn đường; 01 đèn sau, ngoài, bên trái; 01 đèn lái sau, trong, bên trái; 01 chắn bùn bánh sau bên trái; 01 nẹp cài cản sau bên trái; 01 cổ bình đổ xăng; 01 hông sau bên trái; 01 bát bắt hộp cảnh báo làn đường bên trái; 01 ốp vè sau trái; 01 nắp ốp sau; 01 xương hông vè sau bên trái; 01 xương cản sau; 01 xương khoang hành lý sau; 01 logo chữ CX-3; 01 bát bắt cản phía sau bên trái; 01 khung dàn gầm sau; 01 nắp đậy bình xăng; 01 moay ơ bánh sau bên trái; 01 la zăng sau bên trái; 01 lốp sau bên trái; 01 hộp đèn điều khiển cảnh báo điểm mù sau bên trái; 01 bộ ốp cản sau; 01 đèn phản quang phía sau bên trái; 01 xương sắt xi bắt vào cầu sau; 01 đĩa phanh sau bên trái; 01 phuộc nhún sau bên phụ; 01 gương chiếu hậu trong kính lái; 01 cản trước bên trái; 01 cản trước và sau bên trái; 01 Công tháo lắp, sửa chữa, công sơn. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 155.450.163 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2023/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã quyết định:

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố: Bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt: Bị cáo Đặng Đình T 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Đặng Đình T phải bồi thường cho anh Phan Trung N 180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu đồng); Buộc bị cáo Đặng Đình T phải bồi thường cho ông Vương Hải V 184.374.000 đồng (Một trăm tám mươi bốn nghìn ba trăm bảy mươi tư nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành xong các khoản tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 15-3-2023, bị cáo Đặng Đình T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 24-3-2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Hải V kháng cáo đề nghị bồi thương thêm các khoản chi phí gồm tiền cẩu xe từ vị trí tai nạn đến xưởng sửa chữa là 5.000.000 đồng và tiền thuê xe trong thời gian chờ vụ việc là 100.000.000 đồng.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Đình T thừa nhận bị xử phạt về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông phát biểu quan điểm:

- Đối với yêu cầu rút kháng cáo cả người liên quan: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 342, Điều 348 của Bộ luật hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Hải V.

- Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo Đặng Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, y án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.

Bị cáo Đặng Đình T không bào chữa bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Theo lời khai của bị cáo Đặng Đình T tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 19h20’ ngày 22/5/2022, đoạn đường phía trước cửa Siêu thị điện máy Chợ lớn thuộc tổ dân phố, phường N, thành phố G, Đặng Đình T điều khiển xe ô tô BKS 48A-115.78 đi lấn làn đường và không làm chủ tốc độ đã đâm vào xe ô tô BKS 48A-147.70 của anh Phan Trung N. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại xe ô tô BKS 48A-147.70 là 155.450.163 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo Đặng Đình T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

. Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Đình T: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết mới là bồi thường thiệt hại số tiền 5.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng xét thấy hậu quả vật chất do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là lớn.Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá khách quan, toàn diện các tình tiết của vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm tù là mức hình phạt đầu khung hình phạt của Điều 260 của Bộ luật hình sự là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đặng Đình T.

. Đối với yêu cầu rút kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của ông Vương Hải V thì Hội đồng xét xử chấp nhận, căn cứ Điều 342, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Vương Hải V.

. Về án phí: Do kháng cáo không chấp nhận nên bị cáo Đặng Đình T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

1.Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Hải V.

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Đình T, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố: Bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo Đặng Đình T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo Đặng Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ