- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông L yêu cầu được ly hôn với bà P và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thành L đối với bị đơn bà Hoàng Thị Thu P về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17-7-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Dũng.
2. Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Thành L, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 864/11, đường L, tổ 41, khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị Thu P, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 16C1, đường số 4, tổ 111, khu dân cư H, khu phố 8, phường H (địa chỉ cũ: Số K1/16, lô C1, tổ 14, khu phố 1, phường H), thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
3. Người làm chứng: Ông Huỳnh Kim L1 sinh năm 1947; địa chỉ: Số 864/11, đường L, tổ 41, khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Thành L trình bày:
Ông Huỳnh Thành L và bà Hoàng Thị Thu P là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 101, ngày 06 tháng 11 năm 2019. Sau khi kết hôn, ông L và bà P chung sống cùng với cha mẹ ông L tại địa chỉ số 864/11, đường L, tổ 41, khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn. Bà P đã bỏ về nhà cha mẹ ruột tại địa chỉ 16C1, đường số 4, tổ 111, khu dân cư H, khu phố 8, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống từ khoảng 01 năm nay; ông L và bà P không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng nhau thực hiện công việc chung trong gia đình. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà P.
Về con chung: Ông L và bà P có 01 con chung tên Huỳnh Long P, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2019. Từ thời điểm ông L và bà P không còn sống chung thì cháu P sống cùng với ông L, do ông L nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hoàng Thị Thu P được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà P không đến Tòa án nhân dân thành phố T làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án, vì vậy Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn bà P về việc giải quyết vụ án.
Người làm chứng ông Huỳnh Kim L1 trình bày: Ông L1 là ba ruột của ông L và là ba chồng của bà P. Sau khi ông L và bà P kết hôn thì ông L và bà P chung sống cùng với vợ chồng ông L1 tại số 864/11, đường L, tổ 41, khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Cuộc sống hôn nhân của ông L và bà P hạnh phúc. Ông L và bà P có 01 con chung tên Huỳnh Long P, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2019. Đến khoảng năm 2022 thì vợ chồng ông L, bà P phát sinh mâu thuẫn; bà P đã bỏ về nhà ba mẹ ruột tại địa chỉ 16C1, đường số 4, tổ 111, khu dân cư H, khu phố 8, phường H sinh sống cho tới nay. Khi bà P bỏ đi thì bà P để lại cháu P cho ông L nuôi dưỡng, thỉnh thoảng bà P có về thăm cháu P (khoảng 1 tháng 1 lần). Hiện nay ông L là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và đang sinh sống cùng với ông L1.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân, ông L và bà P hiện nay không còn sống chung; quá trình giải quyết vụ án, bà P cũng vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông L. Như vậy, có căn cứ xác định mẫu thuẫn giữa ông L và bà P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà P là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về con chung: Ông L và bà P có 01 con chung tên Huỳnh Long P, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2019; từ thời điểm ông L và bà P không còn sống chung đến nay thì ông L là người nuôi dưỡng cháu P. Quá trình giải quyết vụ án, bà P cũng không có ý kiến gì đối với con chung. Do đó, cần thiết giao con chung cho ông L nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn bà P nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà P đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn ông L và người làm chứng ông L1 có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, bị đơn bà P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa vào các ngày 29 tháng 6 năm 2023 và 17 tháng 7 năm 2023 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228, 229 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông L và bà P tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 101, ngày 06 tháng 11 năm 2019. Hôn nhân của ông L và bà P là hợp pháp.
Ông L cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không tìm được tiếng nói chung; hiện nay ông L và bà P không còn sống chung, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau thực hiện các công việc chung trong gia đình; do đó ông L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà P.
Hội đồng xét xử xét thấy qua xác minh tại địa phương để xác định nguyên nhân mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của vợ chồng ông L và bà P thì địa phương không rõ vì vợ chồng ông L và bà P không trình báo với địa phương về vấn đề mâu thuẫn gia đình. Tuy nhiên thực tế, tình cảm vợ chồng giữa ông L và bà P đã không còn nên ông L mới khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà P; bà P được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng, cũng không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án, chứng tỏ bà P cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông L. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông L và bà P đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn; mục đích hôn nhân giữa ông L và bà P không đạt được. Do đó yêu cầu của ông L về việc được ly hôn với bà P là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông L và bà P có 01 con chung tên Huỳnh Long P, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2019. Khi ly hôn, ông L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy cháu P hiện nay đã được 3 năm 8 tháng tuổi. Từ thời điểm ông L và bà P không còn sống chung thì cháu P do ông L nuôi dưỡng, điều này được người làm chứng là ông L1 xác nhận. Quá trình giải quyết vụ án, bà P cũng không có ý kiến về việc có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung hay không. Để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống, nơi sinh sống, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của cháu P thì cần giao cháu P cho ông L nuôi dưỡng. Ông L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông L về việc không yêu cầu bà P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thành L đối với bị đơn bà Hoàng Thị Thu P về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Thành L được ly hôn với bà Hoàng Thị Thu P.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh Long P, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2019 cho ông Huỳnh Thành L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Huỳnh Thành L về việc không yêu cầu bà Hoàng Thị Thu P cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Huỳnh Thành L và bà Hoàng Thị Thu P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được quyền cản trở. Trường hợp bà Hoàng Thị Thu P lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con của ông Huỳnh Thành L thì ông Huỳnh Thành L có quyền yêu cầu hạn chế quyền thăm nom con của bà Hoàng Thị Thu P theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt vấn đề giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Huỳnh Thành L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002738 ngày 11 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Ủy ban nhân dân phường P; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng |