vanban.org

Bản án 55/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn chị Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Hòa và anh Phú"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH L
Bản án số: 55/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 10 - 7 - 2023
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Trương Minh Thọ;

2.Bà Mai Lương Anh

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc P - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Đ - tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh L tham gia phiên

tòa: Bà Đỗ Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L;

xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 221/2023/TLST -HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh H, sinh năm: 1987 (có mặt).

Địa chỉ: tổ 1, Vạn Thành, Phường E, thành phố Đ, tỉnh L.

Bị đơn: Anh Phạm Văn P, sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 12, đường Y, Phường S, thành phố Đ, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn chị

Nguyễn Thị Khánh H thì: Chị và anh P kết hôn với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND nhân dân Phường A, thành phố Đ, tỉnh L, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi cưới vợ chồng sống chung ở nhà trọ tại đường L, Phường S, thành phố Đ. Cuộc sống chung hạnh Pc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P ham chơi rượu chè, không lo làm ăn, không có việc làm ổn định, không có trách nhiệm với vợ con, mọi kinh tế trong gia đình đều do chị lo liệu. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Chị đã từng xin ly hôn nhưng do anh P không đến Tòa nên chị đã rút đơn ly hôn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Phạm Văn N, sinh ngày

12/02/2017, lâu nay con sống cùng chị, ly hôn chị có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con tự vợ chồng chị sẽ thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và

không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Theo trình bày của bị đơn anh Phạm Văn P thì: Anh và chị Nguyễn Thị

Khánh H kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 1, thành phố Đ, tỉnh L; hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau ở nhà trọ tại Đ. Cuộc sống chung hạnh Pc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cãi nhau và không H hợp, vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2018. Nay chị H cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Phạm Văn N, sinh ngày

12/02/2017, hiện con đang sống cùng chị H. Ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung và

không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tiếp cận chứng cứ và H giải

nhưng anh P vắng mặt nên việc H giải không thành.

Tại phiên tòa, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên vẫn giữ

nguyên yêu cầu xin ly hôn đối với anh P. Về con chung chị H có nguyện vọng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm Văn N, sinh ngày 12/02/2017, việc cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận; về tài sản chung và nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà phát biểu

ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên toà sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có mặt tại phiên tòa đã chấp hành đúng nội quy phiên toà, đương sự vắng mặt đã được tống đạt thủ tục đầy đủ đúng quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Khánh H, cho chị Nguyễn Thị Khánh H được ly hôn với anh Phạm Văn P; về con chung: Giao con chung là Phạm Văn N, sinh ngày 12/02/2017 cho chị H được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con thành niên, về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên

toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Giữa chị Nguyễn Thị

Khánh H và anh Phạm Văn P kết hôn với nhau vào năm 2015, quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh P, nên xác định quan hệ tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật dân sự năm 2015; bị đơn anh P hiện cư trú tại Phường 5, thành phố Đ, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nói trên.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Phạm Văn P đã được triệu tập hợp lệ

trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa hôm nay nhưng anh P có đơn xin vắng mặt, nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh P kết hôn với nhau năm 2015 trên

cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố Đ, tỉnh L. Theo trình bày của chị H thì vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh P ham chơi rượu chè, không lo làm ăn, không có việc làm ổn định, không có trách nhiệm với vợ con; vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, nên nguyện vọng của chị xin ly hôn để ổn định cuộc sống. Quá trình giải quyết vụ án anh P cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H. Tại phiên tòa, chị H xác định không còn tình cảm với anh P và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh P đã trầm trọng kéo dài, cuộc sống hôn nhân không hạnh Pc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, xử cho chị H và anh P được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Các đương sự xác định vợ chồng có 01 con chung là

Phạm Văn N, sinh ngày 12/02/2017. Ly hôn chị H có nguyện vọng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con thành niên, anh P cũng đồng ý giao con chung cho chị H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng; vì vậy cần giao con chung là Phạm Văn N cho chị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi con thành niên là phù hợp.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại

phiên tòa chị H đều xác định việc cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Các đương sự xác định vợ chồng không có tài sản

chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nợ chung, nên Hội

đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh H phải chịu 300.000đ án phí dân sự

sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của

Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81;

Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn” của nguyên đơn chị Nguyễn

Thị Khánh H đối với bị đơn anh Phạm Văn P.

Xử:

1/Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Khánh H và anh Phạm Văn P

được ly hôn.

2/Về con chung: Giao con chung là Phạm Văn N, sinh ngày 12/02/2017 cho

chị Nguyễn Thị Khánh H có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền

thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3/Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn

đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0011630 ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, chị H đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười

lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (10/7/2023). Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L xét xử Pc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ