vanban.org

Bản án 55/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ D đối với anh Hà Văn P. Chị D được ly hôn với anh P.

Về con chung: Không có nên không giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn giữa chị Trương Thị Mỹ Duyên và anh Hà Văn Phước"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ D đối với anh Hà Văn P. Chị D được ly hôn với anh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-5-2023
V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Kim Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thiểu

2. Ông Nguyễn Ngọc Thạch

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Son – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 113/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Mỹ D, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ 31, ấp TV 3, xã TP, huyện GD, tỉnh TN.

Tạm trú: Số 32, đường NTT, khu phố 5, thị trấn CC, huyện CC, Thành phố HCM.

- Bị đơn: Anh Hà Văn P, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ 31, ấp TV 3, xã TP, huyện GD, tỉnh TN.

(Chị D và anh P vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30-01-2023 và các biên bản làm việc, nguyên đơn chị Trương Thị Mỹ D trình bày:

Chị và anh Hà Văn P chung sống với nhau vào khoảng năm 2007, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện GD vào năm 2009, sau khi kết hôn vợ chồng chị sống tại nhà cha mẹ ruột của anh P.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có sự tin tưởng lẫn nhau, anh P không còn quan tâm chăm sóc chị mà đi chơi suốt ngày, không tôn trọng chị, nhiều lần chưởi bới thô tục, dùng dao rượt đuổi và đánh chị, đến ngày 23-12-2022 (dương lịch) chị rời khỏi nhà cho đến nay. Sau khi ly thân anh P có tìm gặp chị để bàn việc đoàn tụ nhưng chị nhận thấy không thể chung sống với anh P được nữa nên vợ chồng không đoàn tụ. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh P.

Về con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 05-4-2023 và biên bản hòa giải ngày 12-4-2023, bị đơn anh Hà Văn P trình bày:

Anh thống nhất như lời trình bày của chị D về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẫn: Theo anh, chị D thường xuyên đi vắng nhà do làm nghề buôn bán, chị D viện lý do về nhà đám giỗ để đi chơi tại tỉnh Đak Lak, sau khi về tiếp tục đòi đi nữa, anh không cho nên vợ chồng gây gỗ, do nóng giận nên anh có đánh chị D nên chị D bỏ nhà đi đến nay, anh tìm chị D để bàn việc đoàn tụ 02 lần nhưng chị D không đồng ý nên anh không tìm nữa. Nay chị D yêu cầu ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh thống nhất như chị D không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ D đối với anh Hà Văn P. Về con chung: Không có nên không giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Anh chị không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị D và anh P vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên vụ án vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị D và anh P chung sống với nhau vào năm 2007, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện GD vào năm 2009 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhân và bảo vệ. Nay chị D có yêu cầu ly hôn với anh P Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu ly hôn của chị D: Theo chị D, giữa anh chị không có sự tin tưởng lẫn nhau, anh P dùng lời lẽ thô tục xúc phạm và dùng dao hâm dọa rượt đuổi chị. Qua làm việc anh P xác nhận do nóng giận nên có đánh chị Dnhưng do chị D thường xuyên đi vắng nhà. Cho thấy giữa chị D và anh P có mâu thuẫn không thể hàn gắn được, anh chị sống ly thân từ ngày 23-11-2022 đến nay mà không bàn việc đoàn tụ được, thể hiện mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D đối với anh P là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Không có nên không giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ D đối với anh Hà Văn P. Chị D được ly hôn với anh P.

2. Về con chung: Không có nên không giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng chị D đã nộp theo biên lai thu số 0025269 ngày 08-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Chị D đã nộp xong tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ