vanban.org

Bản án 55/2023/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 14/06/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165 và khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

p dụng khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự; p dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? p dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165 và khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 203 Luật Đất đai
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/DS-ST.
Ngày: 14 - 6 - 2023.
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG

- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:

Th ph n - Ch t a phi n t a: Ông Hồ Thanh Hồng.

C c H i th nh n d n:

Bà Lê Thị Tú Anh.

Ông Lê Văn Thới.

- Th ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh V nh Long.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Yến Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V tiến hành x t xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2021/TLST-DS, ngày 15 tháng 6 năm 2021 về “Tranh ch p quyền sử dụng đ t”, theo Quyết định đưa vụ án ra x t xử số: 73/2023/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đ n: Ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1968; nơi cư trú: Số nhà 52, đường N, Khóm B, Phường H, thành phố V, tỉnh V nh Long, có mặt.

- Bị đ n: Bà Huỳnh Phương T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số nhà 01, đường N, Khóm B, Phường H, thành phố V, tỉnh V nh Long, có mặt.

- Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Kim K, sinh năm 1976; nơi cư trú: Số nhà 01, đường N, Khóm B, Phường H, thành phố V, tỉnh V nh Long, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn kh i kiện ngày 17 tháng 5 năm 2021 c ng các l n hòa giải tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Ông là chủ sử dụng thửa đất số 45; tờ bản đồ 07; diện tích 249,8m2; tọa lạc tại Khóm B, Phường H, thành phố V đã được cấp quyền sử dụng đất, khi xây dựng nhà ông có chừa một khoảng đất trống ngang trước 0,3m, ngang sau 0,65m, chiều dài khoảng 20m để sử dụng làm cống thoát nước. Giáp ranh đất của ông là đất của bà Huỳnh Phương T và ông K, đất này bà T mua lại của người khác, thửa đất của bà T sử dụng là thửa số 58, tờ bản đồ số 07. Trong quá trình sử dụng bà T, ông K đã tự ý lấn chiếm qua đất của ông, xây tường lửng, dựng lưới B40 lợp tol sát vào vách tường nhà ông sử dụng làm Bếp nấu ăn. Nay ông S yêu c u bà T, ông K tháo d , di dời toàn bộ tài sản đã xây dựng trên thửa đất để trả lại cho ông quyền sử dụng đất diện tích qua đo đạc thực tế có diện tích là 4,2m2, ông không hỗ trợ chi phí di dời.

Đối với kết quả đo đạc ph n đất tranh chấp thì ông đồng ý không có ý kiến. Ông cũng đồng ý với kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá do Tòa án trưng c u, đề nghị lấy kết quả định giá tài sản này làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu c u định giá tài sản lại hoặc định giá theo giá thị trường ph n tài sản tranh chấp.

Quá trình giải quyết vụ án bà T trình bày: Bà là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 58, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại Khóm B, Phường H, thành phố V, tỉnh V nh Long, ph n đất của bà có diện tích là 71,3m2, ph n diện tích này là do nhà nước đã thu hồi 3,1m2, khi bà mua thì ph n đất đã được xây dựng hàng rào cũng như vật kiến trúc trên đất, bà không có lấn chiếm của ông S, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với kết quả đo đạc ph n đất tranh chấp thì bà đồng ý không có ý kiến, bà đồng ý với kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá do Tòa án trưng c u, bà đề nghị lấy kết quả định giá tài sản này làm căn cứ giải quyết vụ án, bà không yêu c u định giá tài sản lại hoặc định giá theo giá thị trường ph n tài sản tranh chấp.

Ông K (người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan) trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của bà T, ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật. Ông thống nhất với kết quả đo đạc ph n đất tranh chấp, ông đồng ý với kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá do Tòa án trưng c u và đề nghị lấy kết quả định giá tài sản này làm căn cứ giải quyết vụ án, không yêu c u định giá tài sản lại hoặc định giá theo giá thị trường ph n tài sản tranh chấp.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu c u kh i kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Thành S kh i kiện yêu c u Tòa án buộc bà Huỳnh Phương T và ông Nguyễn Kim K tháo d ph n bếp nấu ăn, d máy tol lấn chiếm không gian để trả lại lại cho ông quyền sử dụng đất diện tích qua đo đạc thực tế là 4,2m2. Bà T có đăng ký Hộ khẩu thường trú tại thành phố V; căn cứ khoảng 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh V nh Long, Tòa án nhân dân thành phố V thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp được xác định “Tranh ch p quyền sử dụng đ t”.

Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì thể hiện thửa đất số 45; tờ bản đồ 07; diện tích 249,8m2; tọa lạc tại Khóm B, Phường H, thành phố V, tỉnh V nh Long là do ông Nguyễn Thành S đứng tên quyền sử dụng và được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ngày 25/12/2002. Kết quả đo đạc l n thứ nhất ngày 23/8/2022 thể hiện phía bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có lấn chiếm diện tích đất 4,3m2 tại thửa đất số 45 (thửa đất ông S). Tuy nhiên, phía bị đơn không đồng ý kết quả đo đạc và có yêu c u đo đạc lại, Tòa án tiến hành tổ chức đo đạc lại ngày 18/11/2022, kết quả cho thấy phía bị đơn và người có quyền lợi ngh a vụ liên quan có lấn chiếm diện tích 4,2m2 tại thửa đất số 45 (thửa đất ông S); kết quả thẩm định tại chỗ cho thấy trên ph n đất tranh chấp có ph n nhà nấu ăn xây tường lửng và lưới B40, mái lợp tol; quá trình giải quyết vụ án có chứng cứ cho thấy ông K (chồng bà T) sống chung tại thửa đất tranh chấp. Từ những căn cứ vừa nêu, x t yêu c u của nguyên đơn buộc bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan tháo d nhà nấu ăn xây tường lửng và lưới B40, mái lợp tol trả lại diện tích đất bị lấn chiếm diện tích 4,2m2 tại thửa đất 45 cho ông S là có cơ s chấp nhận, đúng với quy định tại khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự.

Do yêu c u của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số tiền bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan phải nộp 300.000 đồng (án phí không giá ngạch).

Ngoài ra trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu c u của ông S (nguyên đơn); bà T (bị đơn) yêu c u đo đạc lại và thấy việc đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ là c n thiết cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án tiến hành trưng c u đo đạc, định giá, thẩm định tại chỗ (02 l n) với tổng số tiền là 8.000.000đồng. Do yêu c u của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan phải chịu số tiền nêu trên là đúng theo quy định khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165 và khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự, số tiền này nguyên đơn đã tạm nộp 3.000.000 đồng, bị đơn nộp 5.000.000 đồng, nên buộc bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan nộp lại 3.000.000 đồng để trả cho nguyên đơn.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu c u của nguyên đơn, buộc bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là hợp lý. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tố tụng, Kiểm sát viên nhận x t, từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đ y đủ những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng x t xử tuân thủ đúng trình tự thủ tục quy định tại phiên tòa, người tham gia tố tụng chấp hành tốt những quy định của pháp luật và vụ án được đưa ra x t xử không đúng hạn theo luật định.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

p dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165 và khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

p dụng khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai và khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự;

p dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên x :

1. Về nội dung:

- Chấp nhận yêu c u kh i kiện của ông Nguyễn Thành. Buộc bà Huỳnh Phương T và ông Nguyễn Kim K có trách nhiệm tháo d ph n tường rào, lưới B40, mái tol trả lại cho ông Nguyễn Thành S ph n đất đã lấm chiếm, diện tích 4,2m2, tại tách thửa đất số 45-2 & 45-3; tờ bản đồ 07; tọa lạc tại Khóm 3, Phường 2, thành phố V nh Long, tỉnh V nh Long nằm trong các mốc 4, A, 22, 4 và 18, 20, 21, 18 (kèm theo Sơ đồ vị trí thửa đất ngày 12/6/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh V nh Long).

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

- Buộc bà Huỳnh Phương T và ông Nguyễn Kim K nộp 300.000 đồng (ba tră ng n đ ng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Nguyễn Thành S không phải chịu án phí, số tiền tạm ứng án phí ông đã nộp 300.000 đồng (ba tră ng n đ ng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, theo biên lai thu tiền số 0000260 ngày 21/5/2021 được hoàn trả lại cho ông Nguyễn Thành S.

- Buộc bà Huỳnh Phương T và ông Nguyễn Kim K phải chịu chi phí định giá và thẩm định tại chỗ (02 l n) số tiền 8.000.000 đồng (t triệu đ ng).

- Buộc bà Huỳnh Phương T và ông Nguyễn Kim K nộp số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đ ng) để lại trả cho ông Nguyễn Thành S.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ