vanban.org

Bản án 55/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn K 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/04/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Kỳ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày: 24-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Sơn.

2. Ông Nguyễn Văn Đang.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Hà - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:

1. Ông Phạm Việt Dũng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

2. Ông Nguyễn Dương Thành - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình và điểm cầu thành phần tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 48/2022/TLST - HS ngày 22 tháng 7 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Văn Kỳ, sinh năm 1987, tại: huyện V, tỉnh N; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh N; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn B (đã chết) và bà Trần Thị Ch; có vợ tên là Nguyễn Thị G; con: có 03 con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: bản án số 58/HSST ngày 15/9/2020 Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: không; Nhân thân: (1) Ngày 02/6/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 12 tháng; (2) bản án số 124/HSST ngày 29/4/2014 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/4/2022 đến ngày 19/4/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1987.

Trú tại: thôn Q, xã Q, huyện Nh, tỉnh N (vắng mặt).

- Người làm chứng: ông Phạm Văn Ch, sinh năm 1959 (vắng mặt).

- Người chứng kiến: ông Trần Ích Ch, sinh năm 1965 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 13/04/2022 tổ công tác công an phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp đang tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, phát hiện một nam thanh niên lạ mặt, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, đang đứng một mình bên trái đường Lê Trọng Tấn (hướng đường Quyết Thắng đi vào đường Lê Trọng Tấn) thuộc tổ 1, phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp; tổ công tác đến yêu cầu kiểm ra giấy tờ tùy thân, nam thanh niên xuất trình 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Văn K và khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy Heroine và thừa nhận đang cầm trên tay phải một gói ma túy loại Heroine, trước đó K đã nhờ người bạn tên L nhà ở thành phố T không rõ họ, tên đệm và địa chỉ cụ thể, mua hộ với giá 200.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân và tự giác giao nộp. Tổ công tác kiểm tra gói ma túy K giao nộp được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu vàng mở lớp giấy bạc màu vàng, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng đục, K khai nhận đó là ma túy Heroine. Tổ công tác tiến hành niêm phong gói giấy bạc màu vàng, K giao nộp vào phong bì giấy gián kín mép, trên mép có chữ ký của K, người làm chứng, người chứng kiến và cán bộ công an làm nhiệm vụ. Ngoài ra K tự lấy ở túi quần phía trước bên phải ra 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo màu xanh nhạt, trong lắp 01 sim Vinaphone có số thuê bao 0919916534, 01 sim Viettel có số thuê bao 0988385254 và số tiền 200.000 đồng giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong theo đúng quy định, sau đó đưa K cùng vật chứng và mời người làm chứng, người chứng kiến về trụ sở Công an phường Trung Sơn lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, rồi chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại trụ sở Công an phường Trung Sơn, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng đục thu giữ của Đỗ Văn K, có khối lượng 0,19 gam ký hiệu M gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 281/KL-KTHS-MT ngày 19/4/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng đục gửi đi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1851 gam là ma túy, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục I, số thứ tự 9, Nghị định 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 20/07/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Đỗ Văn K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Đỗ Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn K từ 22 tháng tù đến 25 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 13/4/2022.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ vật chứng bao gồm:

+ 01phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật, bên trong có mẫu vật ký hiệu M = 0,1369 gam ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

+ 01phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo quy định của pháp luật bên ngoài ghi vật chứng còn lại gồm: 01vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu đã dùng niêm phong ban đầu; 01mảnh giấy bạc màu vàng, kích thước (4x8)cm mà Kỳ sử dụng để gói ma túy.

- Trả lại 200.000đồng cho Đỗ Văn K.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị G (vợ của bị cáo K) khai báo, sáng ngày 13/04/2022 bị cáo K có hỏi mượn chị Giang chiếc điện thoại Oppo màu xanh lắp 01 sim Vinaphone số thuê bao 0919916534 và 01 sim Viettel số thuê bao 0988385254, để liên lạc chị G không biết bị cáo K có liên lạc mua ma tuý để sử dụng cho bản thân, nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Tam Điệp đã trả lại điện thoại Oppo màu xanh lắp sim 01 Vinaphone số thuê bao 0919916534 và 01 sim Viettel số thuê bao 0988385254 cho chị Giang, chị G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về việc giải quyết vụ án.

Người làm chứng ông Phạm Văn Ch khai báo: khoảng 09 giờ 45 phút ngày 13/04/2022, đang đi trên đường Lê Trọng T hướng ra đường Q thuộc tổ 1, phường Tr, thành phố T, tỉnh N Công an có mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính bị cáo Kỳ xuất trình được giấy tờ tùy thân và khai nhận là người nghiện ma túy, đồng thời giao nộp cho Công an 01 gói ma tuý và lấy ở trong túi quần bên phải ra chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh, cùng số tiền 200.000đ giao nộp cho Công an, Công an có mời ông Trần Ích Ch chứng kiến việc bị cáo K giao nộp 01 gói ma túy; chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo màu xanh; số tiền 200.000đ cho công an.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 281/KL-KTHS-MT ngày19/04/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 13/04/2022 Công an phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp đang tiến hành tuần tra bảo đảm an ninh trật tự trên đường Lê Trọng Tấn, thuộc tổ 1, phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp đã tiến hành kiểm tra phát hiện K có hành vi tàng trữ 01gói ma túy có khối lượng 0,1851 gam loại Heroine để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo K là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định về: “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

a) ……

c) Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, ADMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1gam đến dưới 05gam.

Như vậy, khối lượng ma tuý loại Heroine mà bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng:

Ngày 15/9/2020 Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xử phạt bị cáo Đỗ Văn K 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo K là người có nhân thân xấu, ngày 02/06/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 12 tháng và ngày 29/04/2014 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã được xoá án tích.

Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo K đã tàng trữ. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đề nghị xử phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân và cho xã hội, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ xung: bị cáo K mua ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo K.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo mầu xanh nhạt, bên trong lắp 01 sim Vinaphone số thuê bao 0919.916.534,01 sim Viettel có số thuê bao 0988.385.254 qua điều tra xác định là tài sản của chị Nguyễn Thị G - sinh năm 1987, trú tại thôn Q, xã Q, huyện Nh, tỉnh N là vợ của Đỗ Văn K cho K mượn làm phương tiện liên lạc trong sinh hoạt, K không sử dụng để mua ma túy. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại chiếc điện thoại cho chị G là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Văn K là giấy tờ tuỳ thân không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo K là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với số ma túy được hoàn trả sau khi giám định có khối lượng 0,1369 gam là vật cấm lưu hành; 01vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu đã dùng niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc màu vàng, kích thước (4x8)cm dùng để gói ma túy. Do vậy căn cứ điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo K khai nhận ngày 13/04/2022 do có nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo K nhờ người tên L ở thành phố Tam Điệp không rõ họ tên đệm và địa chỉ cụ thể mua vào sáng cùng ngày tại khu vực thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình để sử dụng cho bản thân. Do vậy không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn K 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/04/2022.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật, bên trong có mẫu vật ký hiệu M = 0,1369 gam ma túy loại Heroine và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong.

+ 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo quy định của pháp luật bên ngoài ghi vật chứng còn lại gồm: 01vỏ phong bì giấy đã bị xé rách một đầu đã dùng niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc màu vàng, kích thước (4x8)cm.

- Trả lại 200.000đ cho bị cáo K

(Chi tiết vật chứng theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 29/07/2022 và giấy uỷ nhiệm chi ngày 26/07/2022 giữa Cơ quan điều tra công an thành phố Tam Điệp với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).

3. Về án phí: bị cáo Đỗ Văn K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ