vanban.org

Bản án 55/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Anh M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Dương Anh M 17 (mười bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Anh M tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Anh M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 55/2022/HSST
Ngày 24/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH N

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích T

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ngọc N

Bà Hoàng Thị P

-Thƣ ký phiên toà: Ông Bùi Đức T, Thư ký Toà án nhân dân thành phố N - tỉnh N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N - tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc L, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2022/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Dƣơng Anh M, sinh năm 1984. Tại N.Tên gọi khác: không. HKTT và nơi ở hiện nay: Số nhà 10, ngõ 15, đường P, phố 4, phường V, thành phố N, tỉnh N. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Dương Văn T (đã chết) và bà Vũ Thị D. Vợ Lê Thị Mỹ D, con: có 01 con, sinh năm 2011. Tiền án,tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2022 chuyển tạm giam ngày 01/4/2022 tại trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Dương Mạnh H, sinh năm 1986, trú tại xóm Phố 4, phường V, thành phố N, tỉnh N. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Hoàng M T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Anh M là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/3/2022, M điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter RC màu trắng đỏ, đen biển kiểm soát 35B1 - 054.21 đi từ nhà sang khu vực bờ đê thuộc xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy đá có đặc điểm là túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (2 x 2) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng với giá 400.000 đồng. Mua được ma túy, M cầm ở tay trái rồi điều khiển xe về thành phố N để sử dụng. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi M về đến khu vực đường Lương Văn Thăng, phố 11, phường Đông Thành, thành phố N thì bị Tổ công tác công an phường Ninh Phong phối hợp với công an phường Đông Thành, thành phố N tuần tra phát hiện M có biểu hiện nghi vấn nên đã ra tín hiệu yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Do sợ hãi vì đang mang ma túy nên M đã thả từ tay trái xuống mặt đường túi ma túy vừa mua được. Khi đi thêm được khoảng 05 m thì xe mô tô của M dừng lại. Tại chỗ Dương Anh M khai nhận về việc vừa thả 01 túi ma túy đá xuống mặt đường. Sau đó, M tự giác đi lại vị nơi M đến đã thả túi ma túy rồi nhặt túi ma túy lên giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác tiến hành niêm phong túi ma túy theo quy định rồi đưa M cùng vật chứng và người làm chứng về trụ sở Công an phường Đông Thành, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của M 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter RC màu trắng đỏ, đen biển kiểm soát 35B1 - 054.21

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Dương Anh M có khối lượng là 0,46 gam, ký hiệu M1 gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 245/KLGĐ-PC09-MT ngày 30/3/2021 của Phòng kĩ thuật hình sự công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,4516 (không phẩy bốn nghìn năm trăm mười sáu) gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn trả lại 0,3865 gam chất dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ghi số 245/KLGĐ-PC09-MT”.

Quá trình điều tra Dương Anh M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter RC màu trắng đỏ, đen biển kiểm soát 35B1 - 054.21 thu giữ của Dương Anh M, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của anh Dương Mạnh H, sinh năm 1986, trú tại phố 4, phường V, thành phố N, tỉnh N là em trai của M. Khoảng tháng 02 năm 2022, M mượn chiếc xe mô tô trên của anh H để đi làm, ngày 25/3/2022 M điều khiển chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy anh H không biết. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Dương Mạnh H theo quy định.

Đối với số ma túy loại Methamphetamie cơ quan giám định hoàn lại cùng vỏ bao gói niêm phong được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố N giải quyết cùng vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 53/CT- VKS ngày 26/4/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố bị cáo Dương Anh M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/3/2022. Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Dương Anh M được hoàn lại sau khi giám định cùng vỏ bao giấy gói ban đầu. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Dương Anh M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo xác định không bị ép cung, ngược đãi hành hạ, đánh đập. Đến nay bị cáo không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 25/3/2022 tại khu vực đường Lương Văn Thăng, phố 11, phường Đông Thành, thành phố N, tỉnh N bị cáo Dương Anh M đã có hành vi cất giữ trên người 0,4516gam ma túy loại Methamphetamine chứa đựng trong 01 túi nilon màu trắng kích thước kích thước (2x2) cm. Khi bị Công an phường Ninh Phong phối hợp với Công an phường Đông Thành yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Bị cáo đã thả gói ma túy đang cầm ở trên tay trái của mình xuống đường trước khi dừng xe cách khoảng 5m. Sau đó bị cáo đã quay lại đi đến chỗ vừa thả gói ma túy tự giác nhặt lên và giao nộp cho cơ quan Công an đồng thời khai nhận là gói ma túy bị cáo vừa mua được ở xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định mang về để sử dụng cho bản thân.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng, thu mẫu giám định niêm phong lại; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, đã đủ cơ sở xác định bị cáo đã cất giữ trái phép 0,4516gam Methamphetamine là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo là người nghiện ma túy, khi bị bắt xét nghiệm trong người bị cáo dương tính với ma túy Methamphetamine và MDMA. Việc bị cáo cất giữ ma túy để sử dụng là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn và hậu quả khôn lường cho xã hội mà Đảng và Nhà nước ra đang ra sức ngăn chặn. Do vậy cần xử phạt bị cáo hình phạt tù nghiêm M cách ly với xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện và cải tạo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng nhằm để giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không nhằm mục đích vụ lợi, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo được cơ quan giám định hoàn lại không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

.Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy: Quá trình điều tra bị cáo khai mua của một người phụ nữ ở xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định không biết rõ họ tên địa chỉ. Vì vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter RC màu trắng đỏ, đen biển kiểm soát 35B1 - 054.21 thu giữ của Dương Anh M là tài sản của anh Dương Mạnh H. Anh H không biết bị cáo M điều khiển chiếc xe mô tô trên để đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Dương Mạnh H là đúng theo quy định của pháp luật. Đến nay anh H không có ý kiến gì.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Anh M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Dương Anh M 17 (mười bẩy) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/3/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy được cơ quan giám định hoàn lại cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu.

(Vật chứng có số lượng, đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 5 năm 2022 giữa Công an Thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Anh M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ