vanban.org

Bản án 55/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu P 08 (tám) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2021.

Trả lại cho 01 xe gắn máy Wave biển số 61L1-09.. cho ông Đặng T.H để tiếp tục quản lý, sử dụng. (theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 57 ngày 29/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu P 08 (tám) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày: 28/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hòa Bình;

2. Ông Ngô Hữu Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên

Trong ngày 28/4/2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Đặng Hữu P, sinh năm 1993 tại tỉnh Tiền G; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Không có chỗ ở ổn định; nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1970 và con bà Huỳnh Kim Đ, sinh năm 1971; Anh chị em: 02 người (Lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2000); có vợ Lê Thị Trúc L, sinh năm 1997 và có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt truy nã từ ngày 24/12/2021 đến nay. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Phạm Thị Trúc M, sinh năm 1986; địa chỉ: Số B, phường Bình A, Thành phố Dĩ A, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

2. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1981; địa chỉ: Số C, phường Bình C, thị xã Thuận A, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

3. Ông Đặng Trung H, sinh năm 2000; địa chỉ: A, huyện Châu Phú, tỉnh Hậu Giang; tạm trú: Số X đường Huỳnh Tấn P, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

4. Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Số Y đường Phạm Hữu L, Khu phố 2, phường Phú M, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

5. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1987; địa chỉ: Số ZHuỳnh Tấn P, Khu phố 4, phường Phú T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

6. Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1985; địa chỉ: Số đường Chuyên D, Khu phố 3, phường Phú M, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người làm chứng:

1. Ông Lê Phước Y, sinh năm 2000; địa chỉ: J, huyện Châu Phú, tỉnh Hậu Giang; tạm trú: Số O đường Nguyễn Thị T, phường Tân P, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Ông Đặng T.H, sinh năm 2000; địa chỉ: J huyện Châu Phú, tỉnh Hậu Giang; tạm trú: Số O đường Huỳnh Tấn P, phường Tân P, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 26/7/2016, sau khi đi uống rượu, Đặng Hữu P cùng với Lê Phước ÝY Đặng Trung H đứng tại đường Hoàng Quốc V (khu phố 1, phường Phú M, Quận 7) chờ người nhà đến đưa P về. Lúc này, tổ tuần tra của Công an Quận 7 gồm ông Nguyễn Thanh Đ và ông Nguyễn Đức T (cán bộ đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 7) đi trên xe ô tô đặc chủng (xe Ford) đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra chốt chặn theo lịch phân công và kế hoạch tuần tra của Công an Quận 7.

Khi thấy nhóm của P, tổ tuần tra dừng xe, tiến hành kiểm tra giấy tờ, nhắc nhở nhóm của P giải tán vì đêm đã khuya. Tuy nhiên, Đặng Hữu P không chấp hành mà lấy xe máy hiệu Wave biển số 61L1-09.. nổ máy bỏ chạy khoảng 30 mét, sau đó quay xe lại lao thẳng xe về phía ông Nguyễn Thanh Đ. Ông Đ nhảy sang bên né tránh được xe P. P tiếp tục la lối “mấy ông làm gì mà bắt tụi tôi”, đồng thời dùng nón bảo hiểm ném về phía ông Đ và ông T.

Thấy ông T dùng điện thoại di động quay Camera ghi lại hình ảnh hành vi của P, P dùng chân phải đạp trúng người ông T. Lúc này Đ cùng Y, H và T.H can ngăn, kéo P ra, đẩy P vào bãi đất trống gần đó. Cùng lúc, ông Đ và T điện thoại báo Công an phường Phú M, Quận 7 hỗ trợ. Khi lực lượng Công an phường Phú M đến, yêu cầu P về công an phường giải quyết nhưng P không chấp hành, giằng co không lên xe ô tô của Công an. P dùng chân đạp trúng người ông Nguyễn Thanh V (Công an phường Phú M). Sau đó, P bị không chế đưa về trụ sở Công an phường Phú M.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Đặng Hữu P đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 46/CT- VKSQ7 ngày 30/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay quy định khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay quy định khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt mỗi bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên và không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét đã có đủ cơ sở để kết luận: Ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Thanh V là Công an đang thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn, bị cáo Đặng Hữu P không chấp hành, có hành vi sử dụng xe máy điều khiển lao xe thẳng vào ông Nguyễn Văn Đ đang đứng làm nhiệm vụ (không trúng ông Đ do ông Đ né tránh kịp thời), P còn hành vi dùng chân đạp trúng người, cản trở ông Nguyễn Đức T và ông Nguyễn Thanh V làm nhiệm vụ. Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay quy định khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo P dùng vũ lực, cản trở người thi hành công vụ đang thực hiện nhiệm vụ. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trong quá trình điều tra bị cáo bỏ trốn đã bị ra Quyết định truy nã nên cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang là lao động chính trong gia đình nuôi hai con nhỏ sinh năm 2018, 2020. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với hành vi bị cáo P đạp trúng ông Nguyễn Đức T và Nguyễn Thanh V nhưng không gây thương tích, ông T và ông V từ chối giám định nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ nên không xét.

Xử lý vật chứng vụ án: 01 xe gắn máy Wave biển số 61L1-0916 do bà Phạm Thị Trúc M, sinh năm 1986; trú tại: B, phường Bình A, Dĩ A, Bình Dương) đứng tên chủ sở hữu. Bà M bán xe cho ông Lê Văn Q, sinh năm 1981; trú tại: C, phường Bình C, thị xã Thuận A, Bình Dương). Tháng 12/2015, ông Q bán xe cho Đặng T.H, sinh năm 2000; trú tại: Số O, huyện Châu P, tỉnh An G - H là em trai của Đặng Hữu P). Xét, trả lại cho ông Đặng T.H để tiếp tục quản lý sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Thanh Đ bị P chạy xe lao vào người nhưng không trúng, không gây thương tích. Các ông Nguyễn Đức T và Nguyễn Thanh V bị P đạp trúng người nhưng không gây thương tích, từ chối giám định và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại và tại phiên tòa hôm nay các đương sự vắng mặt nên không xét.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu P 08 (tám) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2021.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

Trả lại cho 01 xe gắn máy Wave biển số 61L1-09.. cho ông Đặng T.H để tiếp tục quản lý, sử dụng.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 57 ngày 29/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7).

3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ