vanban.org

Bản án 55/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo là ngày 12 tháng 4 năm 2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày: 16 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Yên.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Chiến

Ông Đặng Văn Tần

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Công - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2022/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T, sinh ngày 27/6/1985 tại huyện TT, thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Thôn YM, xã BY, huyện TT, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và con bà Dương Thị T; có vợ là Vương Thị T; có hai con lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011;

Tiền án, Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/4/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 11/4/2022, Nguyễn Văn T, đi đến khu vực xã VX, huyện PT, TP Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy Heroin với giá 300.000 đ rồi đi về nhà, sau đó T lấy gói ma túy ra sử dụng một nửa, số ma túy còn lại T gói và cất vào túi quần. Đến khoảng 15 giờ ngày 12/4/2022, T nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0974340631 của một người tên C gọi đến số điện thoại của T hỏi mua một gói ma túy Heroin với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và hẹn giao dịch tại đầu cầu LT – Thạch Thất. Sau đó T đi đến cầu LT thuộc thôn NS, xã LT, huyện TT, TP.Hà Nội để bán ma túy, khi đang đợi để giao ma túy thì bị cơ quan Công an kiểm tra, T thấy thế đã thả gói ma túy xuống đất gần vị trí đang đứng và bị phát hiện, sau đó T tự nhặt gói ma túy lên giao nộp cho lực lượng công an.

Tang vật thu giữ:

- 01 (một) gói ni lông bên trong chứa chất bột màu trắng;

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng bên trong có chứa một sim điện thoại có số thuê bao 0969963065.

Tại bản kết luận giám định số: 2487/KLGĐ - PC09 ngày 20/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong túi nilong ký hiệu mẫu A1 gửi giám định là ma túy loại Heroin có khối lượng 0,342 gam.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì bên trong chứa ma túy Heroin, được niêm phong trong hoàn lại sau giám định và 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đã qua sử dụng bên trong có chứa một sim điện thoại có số thuê bao 0969963065, được bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an huyện TT – Hà Nội.

Tại Bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 25/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện TT đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo từ 28 đến 33 tháng tù.

Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã được niêm phong theo biên bản giao nhận tài sản, tang vật số 60 ngày 11/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT.

Bị cáo nói lời sau cùng trước khi tuyên án: Bị cáo đã biết sai lầm của mình xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về làm ăn lương thiện.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 12 tháng 4 năm 2022, bị cáo có hành vi mua bán trái phép chất ma túy loại Heroin, khối lượng là: 0,342 gam.

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn T phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, chất gây nghiện. Bị cáo có hiểu biết và nhận thức được tính chất nghiêm trọng của hành vi nhưng vẫn thực hiện tội phạm cần phải có hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Hội đồng xét xử thấy cần có hình phạt nghiêm với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các tình tiết khác:

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn T, do T không biết rõ đầy đủ họ tên, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ trong vụ án này.

Đối với số điện thoại 0971 340.631 đã liên lạc với bị cáo Nguyễn Văn T để hỏi mua ma túy. Kết quả thu giữ thư tín, điện tín xác định được thông tin về chủ thuê bao là Bùi Đức L, Sn: 1992, trú tại: thôn BK, xã PK, huyện TT – TP Hà Nội. Bùi Đức L khai nhận không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên và cũng không biết ai đăng ký và sử dụng số điện thoại trên. Vì vậy không có căn cứ để điều tra, làm rõ, xử lý trong vụ án này.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì mẫu vật do phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau giám định bên ngoài có chữ ký niêm phong của bị cáo Nguyễn Văn T, giám định viên Trần Ngọc C và đồng chí Lại Văn T – cán bộ Công an huyện TT; Theo biên bản giao nhận tài sản, tang vật số 60/2022 ngày 11/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT.

Tịch thu, sung công Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, bên trong chứa sim thuê bao số 0969963065 theo biên bản về việc giao nhận tài sản tang vật số 60/2022 ngày 11/8/2022.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mƣơi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo là ngày 12 tháng 4 năm 2022.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì mẫu vật do phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an thành phố Hà Nội hoàn trả sau giám định bên ngoài có chữ ký niêm phong của bị cáo Nguyễn Văn T, giám định viên Trần Ngọc C và đồng chí Lại Văn T – cán bộ Công an huyện TT; Theo biên bản giao nhận tài sản, tang vật số 60/2022 ngày 11/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT.

Tịch thu, sung công Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màu xanh, bên trong chứa sim thuê bao số 0969963065 theo biên bản về việc giao nhận tài sản tang vật số 60/2022 ngày 11/8/2022.

Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016 bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ