- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Nam - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2022/HS-ST Ngày 17 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Yến
Ông Nguyễn Văn Chấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên;
Ngày 17 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức N, sinh năm 1988 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nơi ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định được, con bà Nguyễn Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền sự: Không có; tiền án: Bản án số 147/2019/HS-PT ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2022; nhân thân: Bản án số 45/2014/HSST ngày 20/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 8 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2022 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
* Người làm chứng: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
* Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 21/6/2022, tại khu vực trước cửa nhà ở của Nguyễn Đức N tại tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, Công an huyện Lục Nam bắt quả tang Nguyễn Đức N đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng Trần Văn N, thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ trên tay N 02 đoạn ống hút nhựa được hàn kín trong đó 01 đoạn màu hồng, 01 đoạn màu xanh, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy Heroin, được niêm phong vào một phong bì thư ký hiệu “QT1”; thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của N 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 316.000 đồng, số tiền được niêm phong vào một phong bì thư ký hiệu “QT2”; thu giữ tại túi quần bên phải của N số tiền 8.510.000 đồng, được niêm phong vào một phong bì thư ký hiệu “QT3”.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức N thu giữ:
- Tại phía trên cửa kính giáp tường của gia đình ông Khúc Ngọc S, trước cửa nhà của N 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa nhựa đường viền màu đỏ bên trong đựng 05 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong đều đựng mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy; 05 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh (trong đó 03 túi nilon đựng viên nén hình tròn màu đỏ và 02 túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy), được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX1”.
- Thu giữ bên trong chiếc khăn tại gốc cây trước cửa nhà ở của N 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong đều đựng mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu xanh, bên trong đựng viên nén hình tròn màu hồng đỏ nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX2”.
- Thu giữ bên trong chậu nhựa màu trắng trước cửa nhà ở của N 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ bên trong đựng 42 đoạn ống hút nhựa được hàn kín (trong đó có 02 đoạn màu xanh lá cây, 03 đoạn màu hồng nhạt, 09 đoạn màu tím, 10 đoạn màu hồng, 07 đoạn màu cam, 05 đoạn màu xanh da trời, 06 đoạn màu vàng), bên trong các đoạn ống hút nhựa đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, viền màu đỏ bên trong đựng 30 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong các đoạn ống nhựa đều đựng các mảnh viên nén màu hồng đỏ nghi là ma túy; 05 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh bên trong đều đựng các viên nén hình tròn màu hồng đỏ nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX3”.
- Thu giữ tại nền nhà, dưới gầm ghế 01 túi nilon màu đen bên trong đựng các đoạn ống hút nhựa được cắt ngắn hở hai đầu gồm các màu xanh lá cây, màu hồng nhạt, màu tím, màu hồng, màu cam, màu xanh da trời, màu vàng và 06 bọc vỏ túi nilon đựng các vỏ túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa đường viền màu xanh (bên trong không đựng gì); 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng.
- Thu giữ tại phòng tầng 2 căn nhà N đang ở 01 túi vải màu tím, bên trong đựng 01 vật bằng kim loại có màu trắng đen hình dạng khẩu súng ngắn, kích thước (21,5 x 13 x 04)cm, trên vật này có ghi EFL3-18040188, bên trong vật này có 01 vật bằng kim loại màu đen dạng hộp tiếp đạn, bên trong hộp có chứa 03 vật kim loại màu vàng dạng hình viên đạn; 01 vật bằng kim loại, gỗ dạng hình khẩu súng có kích thước (55 x 09 x 04)cm; 01 vật kim loại màu vàng hình viên đạn, kích thước (2,5x0,5)cm, đáy vật này có ghi chữ E. Tất cả những vật trên được niêm phong trong túi vải màu tím ký hiệu “KX4”.
- Thu giữ tại mặt sàn tầng 2 các vỏ túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong không đựng gì; 01 chiếc coóng thủy tinh, 01 chai nhựa có nắp màu xanh, trên nắp có gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng và mảnh giấy bạc;
- Thu giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KX5”.
Sau khi thu giữ vật chứng nghi là ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 1108/KL-KTHS ngày 28/6/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “QT1” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu (trong đó có: 01 đoạn màu hồng và một đoạn màu xanh) là ma túy, có tổng khối lượng 0,023 gam, loại Heroin.
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “KX1” được niêm phong gửi giám định: Trong 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, một đầu có rãnh khóa nhựa đường viền màu đỏ: Các mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 05 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,215 gam, loại Methamphetamine; Các viên nén hình tròn màu hồng đựng trong 03 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 0,277 gam, loại Methamphetamine; Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 0,280 gam, loại Methamphetamine.
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “KX2” được niêm phong gửi giám định: Các mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 02 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 0,099 gam, loại Methamphetamine; viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,090 gam, loại Methamphetamine.
- Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “KX3” được niêm phong gửi giám định:
+ Trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ: Chất cục bột màu trắng đựng trong 42 đoạn ống nhựa đều được hàn kín (trong đó có: 02 đoạn màu xanh lá cây, 03 đoạn màu hồng nhạt, 09 đoạn màu tím, 10 đoạn màu hồng, 07 đoạn màu cam, 05 đoạn màu xanh da trời, 06 đoạn màu vàng) là ma túy, có tổng khối lượng 2,230 gam, loại Heroine.
+ Trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ: Các mảnh viên nén màu hồng đỏ đựng trong 30 đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có tổng khối lượng 1,323 gam, loại Methamphetamine; Các viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 05 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 0,455 gam, loại Methamphetamine.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định các vật nghi là súng, đạn. Tại Kết luận giám định số 1152/KL-KTHS ngày 05/7/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Khẩu súng bằng kim loại, màu trắng đen, dài 21,5 cm, có ký hiệu “EFL3-18040188” gửi giám định là súng ngắn EKOL Firat Magnum, cỡ nòng 9mm, thuộc danh mục Công cụ hỗ trợ.
- 03 (ba) vật bằng kim loại màu vàng, một đầu có chữ 9mm PAK YAS GLD” trong hộp tiếp đạn của khẩu súng bằng kim loại, màu trắng đen, có ký hiệu“EFL3-18040188” là đạn có đầu đạn cao su, sử dụng cho khẩu súng trên, cỡ (9x22)mm, thuộc danh mục công cụ hỗ trợ.
2. Khẩu súng bằng kim loại, báng súng bằng gỗ, dài 55cm gửi giám định là súng tự tạo, cỡ nòng 18,8mm, thuộc vũ khí quân dụng.
3. Vật bằng kim loại màu vàng, một đầu có chữ “E” gửi giám định là đạn thể thao, cỡ đạn (25 x 5,6mm), không thuộc vũ khí quân dụng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định dấu vết đường vân trên các mẫu vật đã thu giữ được niêm phong. Tại Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 14/07/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Trên tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) có số seri: ER 12463313 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT2” phát hiện 01 (một) dấu vết đường vân, dạng vân đầu ngón, đủ yếu tố giám định.
- Dấu vết đường vân phát hiện tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) có số seri: ER 12463313 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT2” với vân in ở ô “Cái phải” trên chỉ bản ghi tên Nguyễn Đức N là của cùng một người.
2. Trên tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) có số seri: AE 16035550 được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT3” phát hiện 02 (hai) dấu vết đường vân, dạng vân đầu ngón, đủ yếu tố giám định, ký hiệu số 1 và ký hiệu số 2.
- Dấu vết đường vân ký hiệu số 1 với dấu vân in ở ô “trỏ phải” trên chỉ bản ghi tên Trần Văn N là của cùng một người.
- Dấu vết đường vân ký hiệu số 2 với dấu vân in ở ô “cái phải” trên chỉ bản ghi tên Trần Văn N là của cùng một người.
3. Trên các mẫu vật còn lại không phát hiện thấy dấu vết đường vân.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Đức N khai nhận: Sau khi chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, N trở về địa phương thấy ở tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L có 01 ngôi nhà bỏ hoang, N dọn đến làm nơi sinh sống. Sáng ngày 21/6/2022, do mắc nghiện ma túy nên N một mình bắt xe buýt xuống thành phố B tìm mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Khi đi đến khu vực trước cổng bến xe khách ở thành phố B, N gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 25 viên ma túy Methamphetamine (tức ma túy tổng hợp); 01 túi ma túy Methamphetamine (tức ma túy đá); 01 túi ma túy Heroine hết tổng số tiền là 4.300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N đi về nhà bỏ hoang rồi lấy một ít ma túy tổng hợp, ma túy Heroin ra để sử dụng. Sau đó N dùng kéo, dao lam cắt các đoạn ống hút nhỏ cùng các vỏ túi nilon để chia số ma túy còn lại thành 37 đoạn ống hút và 09 túi nilon đựng ma túy tổng hợp; 02 túi nilon đựng ma túy đá và 44 đoạn đoạn ống hút nhựa đựng ma túy Heroine. Sau khi chia ma túy xong, N cất giấu vào 03 vị trí là trên tấm cửa kính giáp tường của gia đình ông Khúc Ngọc S, tại gốc cây dưới chiếc khăn trước cửa nhà và trong chậu nhựa màu trắng trước cửa nhà, mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, khi N đang ở nhà thì Trần Văn N một mình đi xe ôm đến hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy Heroin, N đồng ý bán. Sau đó N đưa cho N một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, N cầm tiền và lấy 02 đoạn ống hút nhựa bên trong đựng ma túy Heroine ở trong chậu nhựa màu trắng trước cửa nhà đưa cho N, đồng thời N trả lại cho N số tiền 300.000 đồng gồm 06 tờ 50.000 đồng, đúng lúc này lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ.
Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn Đức N, Trần Văn N, kết quả: N dương tính với ma túy Methamphetamine và Heroine, còn N âm tính. Việc N mua ma túy của N với mục đích để sử dụng, quá trình điều tra xác định khối lượng ma túy N tàng trữ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Lục Nam đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đức N và Trần Văn N về hành vi nêu trên.
Đối với ngôi nhà mà N sử dụng làm nơi ở và mua bán ma túy, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị K nhưng gia đình bà K đã chuyển về thành phố H sinh sống từ năm 2008. Bà K không biết việc N tự ý vào ngôi nhà sinh sống và mua bán ma túy, không biết ai cất giấu các khẩu súng, viên đạn thu giữ được khi khám xét.
Đối với khẩu súng bằng kim loại, báng súng bằng gỗ, dài 55cm được đựng trong túi vải màu tím thu giữ khi khám xét, quá trình điều tra xác định thuộc vũ khí quân dụng nên Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã chuyển khẩu súng trên cùng hồ sơ liên quan đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang để điều tra theo thẩm quyền.
Đối với khẩu súng và 04 viên đạn còn lại thu giữ khi khám xét không phải là vũ khí quân dụng, 01 coóng thủy tinh cùng các vỏ túi nilon có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ thu giữ trên tầng hai ngôi nhà nơi Nam ở; do chưa xác định được người cất giấu số tang vật trên nên Cơ quan điều tra đã kết luận tách ra để xác minh, xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 24 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Đức N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung 5.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy toàn bộ chất ma túy sau giám định được niêm phong trong các phong bì thư ký hiệu QT1, KX1, KX2, KX3; 01 chai nhựa có nắp màu xanh, trên nắp chai gắn với đoạn ống nhựa màu trắng và mảnh giấy bạc; 01 kéo kim loại màu trắng; 01 túi ni lon màu đen bên trong đựng các đoạn ống nhựa được cắt ngắn hở hai đầu; 06 bọc túi ni lon đựng các vỏ túi ni lon. Tịch thu của Nguyễn Đức N số tiền 200.000 đồng do bán ma túy ma có để sung vào công quỹ Nhà nước. Trả lại Nguyễn Đức N 01 điện thoại di động, số tiền 8.310.000 đồng được niêm phong ký hiệu QT3 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại Trần Văn N số tiền 316.000 đồng được niêm phong ký hiệu QT2, 01 ví da màu đen; bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Đức N trình bày: Sau khi chấp hành án phạt tù trở về địa phương bị cáo đã tái nghiện ma túy, bị cáo đi mua ma túy của người không quen biết đem về chia ra làm nhiều gói nhỏ với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, ngày 21/6/2022 bị cáo bán ma túy cho Trần Văn N thì bị bắt quả tang; bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức N luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đối tượng Trần Văn N, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Đức N mua ma túy của một người không xác định được lai lịch, địa chỉ đem về chia nhỏ, đựng vào các túi ni lon và các đoạn ống nhựa, mục đích để sử dụng, nếu có người hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Hồi 15 giờ 30 phút ngày 21/6/2022, bị cáo Nguyễn Đức N bán cho đối tượng nghiện Trần Văn N 02 đoạn ống nhựa đựng ma túy có khối lượng 0,023 gam, loại Heroine với giá 200.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Khám xét nơi ở của bị cáo thu giữ được 2,230 gam ma túy loại Heroine và 2,739 gam ma túy loại Methamphetamine, số ma túy trên được đựng trong 11 túi nilon và 79 đoạn ống nhựa. Tổng khối lượng hai loại chất ma túy Heroine và Methamphetamine thu giữ được là 4,992 gam.
Hành vi bán chất ma túy, tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích bán lại cho người khác của bị cáo Nguyễn Đức N là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền về các loại chất gây nghiện của Nhà nước, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Đức N đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; căn cứ vào tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Đức N về tội danh trên theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập dẫn đến phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã 02 lần bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thế nhưng bị cáo không biết ăn năn hối cải, sửa chữa lỗi lầm, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân bị cáo và của cộng đồng; cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.
Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án hai lần nhưng Bản án số 45/2014/HSST ngày 20/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã được đương nhiên xóa án tích; Bản án số 147/2019/HS-PT ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2022, đến ngày 21/6/2022 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này là tái phạm, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào khối lượng chất ma túy bị cáo đã mua bán, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt giành cho bị cáo ở mức cao của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo phạm tội có mục đích thu lợi bất chính nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền bị cáo để sung vào công quỹ Nhà nước, mức phạt ở mức khởi điểm là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Đối tượng Trần Văn N là người nghiện chất ma túy, N mua ma túy của Nguyễn Đức N có khối lượng dưới 0,1 gam Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi của N chưa cấu thành tội phạm, ngày 09/8/2022, Công an huyện Lục Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn N là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng:
Vật chứng được chuyển theo hồ sơ vụ án có: Mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong các phong bì thư, ký hiệu QT1, KX1, KX2, KX3; số tiền 316.000 đồng được niêm phong ký hiệu QT2; số tiền 8.510.000 đồng được niêm phong ký hiệu QT3; 01 chai nhựa có nắp màu xanh, trên nắp chai gắn với đoạn ống hút nhựa màu trắng và mảnh giấy bạc; 01 kéo kim loại màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen; 01 ví da màu đen; 01 túi nilon màu đen, bên trong đựng các đoạn ống hút nhựa được cắt ngắn hở hai đầu gồm các màu: xanh lá cây, hồng nhạt, tím, hồng, cam, xanh da trời, vàng; 06 bọc túi nilon đựng các vỏ túi nilon màu trắng có rãnh khóa nhựa, viền màu xanh.
Xét thấy chất ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm mà pháp luật Nhà nước cấm lưu hành, những túi ni lon, mảnh giấy bạc, chai nhựa đều là những đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng không có giá trị; cần phải tịch thu toàn bộ chất ma túy và những đồ vật trên để tiêu hủy. Số tiền 200.000 đồng Nguyễn Đức N có được do bán trái phép chất ma túy mà có cần phải tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước; số tiền 8.310.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho Nguyễn Đức N nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án; hai khoản tiền này nằm trong số tiền 8.510.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT3. Số tiền 316.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT2 và 01 ví da màu đen thu giữ của Trần Văn N nhưng không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho N.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 22/6/2022).
Phạt tiền bị cáo Nguyễn Đức N, mức phạt 5.000.000đ (Năm triệu đồng chẵn) để sung vào công quỹ Nhà nước.
2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu toàn bộ chất ma túy sau giám định được niêm phong trong các phong bì thư ký hiệu QT1, KX1, KX2, KX3 có đóng dấu của cơ quan giám định; 01 chai nhựa có nắp màu xanh, trên nắp chai gắn với đoạn ống nhựa màu trắng và mảnh giấy bạc; 01 kéo kim loại màu trắng; 01 túi ni lon màu đen bên trong đựng các đoạn ống nhựa được cắt ngắn hở hai đầu; 06 bọc túi ni lon đựng các vỏ túi ni lon để tiêu hủy.
- Tịch thu của Nguyễn Đức N số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT3 để sung vào công quỹ Nhà nước.
- Trả lại Nguyễn Đức N số tiền 8.350.000 đồng (Tám triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, nhưng tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Trần Văn N số tiền 316.000 đồng (Ba trăm mười sáu nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT2, 01 ví da màu đen.
Những vật chứng nêu trên lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam (biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/9/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt.
| Nơi nhận: - Bị cáo, đương sự - VKSND huyện Lục Nam - VKSND tỉnh Bắc Giang - TAND tỉnh Bắc Giang - CQCSĐT Công an huyện Lục Nam - Chi cục THADS huyện Lục Nam - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang - UBND TT Đ - Lưu hồ sơ, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Thái |