- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2022/HS-ST Ngày 06-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Lâm
Ông Vy Văn Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Mai Hương – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn U, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1979 tại Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh;
Nơi cư trú: Thôn NH, xã H, huyện H, tỉnh L; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Sùng (đã chết) và bà Nguyễn Thị Can (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 18/6/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 10 năm tù, phạt tiền 5.000.000 đồng về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 01/12/2015 đã chấp hành xong toàn bộ bản án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hữu Lũng từ ngày 01/6/2022 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh THoàng Văn H, sinh năm 1972, nơi cư trú: Khu TM, thị trấn H, huyện H, tỉnh L. Vắng mặt
2. Chị Triệu Thị L, sinh năm 1981, nơi cư trú: Thôn NH, xã H, huyện H, tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn U khai nhận bản thân sử dụng trái phép chất ma túy nên chiều ngày 29/5/2022 đi từ nhà của mình đến thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy về sử dụng. Tại khu vực gần ngã tư thị trấn Kép có người đàn ông lạ mặt đeo khẩu trang, khoảng 30 tuổi không rõ tên, tuổi, địa chỉ tới hỏi Nguyễn Văn U có việc gì, Út trả lời muốn mua 1.000.000 đồng tiền ma túy heroine. Nguyễn Văn U đưa cho người đàn ông lạ mặt 1.000.000 đồng và đứng đợi, khoảng 05 phút sau người đàn ông mang cho Út 01 cục ma túy Heroine đựng trong túi nilon màu trắng miệng kẹp dính. Nguyễn Văn U mang ma túy về nhà, vào phòng ngủ, sử dụng kéo cắt ống hút nhựa đã chuẩn bị từ trước thành các đoạn bằng nhau, dùng bật lửa hàn kín một đầu, dùng dao lam cắt cục ma túy thành 12 phần bằng nhau, dùng đoạn ống hút một đầu vát nhọn xúc ma túy cho vào các đoạn ống hút đã hàn kín một đầu, rồi dùng bật lửa gas hàn kín đầu còn lại. Sau khi chia ma túy xong Nguyễn Văn U cho tất cả vào một túi nilon miệng kẹp dính cất giấu tại giường trong phòng ngủ.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/6/2022, THoàng Văn H, sinh năm 1972, trú tại khu Tân Mỹ I, thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng gọi điện cho Nguyễn Văn U hỏi mua 100.000 đồng ma túy. Nguyễn Văn U khai nhận lúc này còn gói ma túy cuối cùng, do nể nên đồng ý bán cho Hiền và bảo Hiền đến nhà mình. Khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, THoàng Văn H đến nhà Nguyễn Văn U, đi vào trong gian bán hàng tạp hóa và đưa cho Út 100.000 đồng, Út lấy từ túi quần bên phải 01 gói ma túy Heroine đưa cho Hiền. THoàng Văn H hỏi Nguyễn Văn U cho vào nhà vệ sinh để sử dụng ma túy nhưng Út không cho và quay lại bán hàng. THoàng Văn H nhân lúc Nguyễn Văn U không chú ý, một mình đi vào bếp nhà Út để sử dụng ma túy dưới hình thức hít. Khi THoàng Văn H vừa sử dụng xong ma túy thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém kích thước (08 x 05) cm, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng kích thước (01 x 0,5) cm bên trong bám dính chất bột màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám đen.
Khám xét nơi ở của Nguyễn Văn U thu giữ vật chứng gồm: 14 đoạn ống hút nhựa kích thước khác nhau, bên trong không đựng gì, 01 lọ nhựa có nắp màu cam, 02 con dao lam, 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Iphone màu xám vỡ màn hình, 01 kéo bằng kim loại, 01 túi nilon màu trắng, 03 mảnh giấy bạc kích thước khác nhau, 01 xi lanh đã qua sử dụng, 01 ống thủy tinh.
Bà Triệu Thị L là người sống cùng bị cáo Nguyễn Văn U giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đồng.
Thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn U cơ quan điều tra tạm giữ 1.100.000 đồng.
Tại Phiếu xét nhiệm ma túy ngày 02/6/2022 kết quả Nguyễn Văn U và THoàng Văn H đều dương tính với ma túy Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 198/KL-KLHS ngày 15/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trong đoạn ống hút nhựa thu giữ của THoàng Văn H là chất ma túy Heroine, không xác định được khối lượng.
Tại bản kết luận giám định số 299/KL-KLHS ngày 19/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam 1.100.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn U về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn U thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Triệu Thị L trình bày: Chị là người đang sống chung cùng bị cáo, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đồng bên trong có gắn 01 sim là của chị cho bị cáo mượn. Chị không biết việc bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy nên yêu cầu xin lại.
Đai diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
a, Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự xử phạt từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng - 10.000.000 đồng.
b, Xử lý vật chứng:
Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy: Các đoạn ống hút nhựa, ống thủy tinh, lọ nhựa, giấy bạc, bật lửa, dao lam, kéo, túi nilon, xi lanh.
- Tịch thu xung công quỹ nhà nước: 100.000 đồng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám đen.
- Trả lại bị cáo: 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Iphone màu xám và số tiền 1.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại Triệu Thị L: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đồng, bên trong có 01 sim của Triệu Thị L.
Bị cáo Nguyễn Văn U trình bày: Hiện bị cáo là lao động tự do không có việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Kiểm sát viên đối đáp ý kiến tranh luận: Do bị cáo phạm tội về ma túy. Việc bị cáo trình bày không có việc làm, tuy nhiên qua xác minh thấy rằng bị cáo có đất, có nhà, có xe nên xác định bị cáo có tài sản riêng. Vì vậy đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là đúng pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn U đã biết hành vi của mình là sai và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh THoàng Văn H vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, lời khai của người vắng mặt tại cơ quan điều tra đã rõ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử do đó căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn U là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vì mục đích lợi nhuận nên ngày 01/6/2022, bị cáo đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho THoàng Văn H. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn U từng bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo đã có thời gian chấp hành hình phạt, việc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bị cáo là người thiếu tu dưỡng bản thân và coi thường pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có tài sản riêng nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo.
Quá trình điều tra, THoàng Văn H khai chiều ngày 30/5/2022, THoàng Văn H liên lạc và đến nhà Nguyễn Văn U để mua của Út 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã hỏi cung, đối chất nhưng Nguyễn Văn U chỉ khai nhận bán ma túy cho THoàng Văn H 01 lần duy nhất ngày 01/6/2022, ngoài ra không còn bán ma túy lần nào khác. Do vậy, không có căn cứ để xác định Nguyễn Văn U bán ma túy nhiều lần.
Về đối tượng liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy: Bị cáo Nguyễn Văn U khai nguồn gốc số ma túy bán trái phép cho THoàng Văn H là do bị cáo mua với một người đàn ông ở thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về nhân thân, lai lịch, địa chỉ của đối tượng bán ma túy cho bị cáo. Do đó, không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý đối tượng nói trên trong vụ án này.
Đối với Triệu Thị L là người sống như vợ chồng với bị cáo nhưng không biết bị cáo sử dụng ma túy; không biết bị cáo sử dụng điện thoại của mình vào việc phạm tội nên không xem xét xử lý.
Đối với việc THoàng Văn H sử dụng ma túy tại bếp nhà bị cáo Nguyễn Văn U; do THoàng Văn H tự ý sử dụng không được sự đồng ý của bị cáo, bản thân bị cáo không biết nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với Nguyễn Văn U về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của THoàng Văn H, Công an huyện Hữu Lũng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đối với các đoạn ống hút nhựa, ống thủy tinh, lọ nhựa, giấy bạc, bật lửa, dao lam, kéo, túi nilon, xi lanh là các dụng cụ để bị cáo và THoàng Văn H dùng để chứa đựng, cất giấu, sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám đen của THoàng Văn H dùng để liên lạc trao đổi mua ma túy và số tiền 100.000 đồng do bán ma túy mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Iphone màu xám của bị cáo dùng để liên lạc hằng ngày và số tiền 1.000.000 đồng là của cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo; đối và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đồng bên trong có gắn 01 sim của chị Triệu Thị L, bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy cho THoàng Văn H nhưng chị Triệu Thị L không biết nên cần trả lại cho chị Triệu Thị L.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng sung công quỹ nhà nước, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn luật định theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn U phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn U 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2022.
Phạt bổ sung: 5.000.000 đồng.
3. Về xử lý vật chứng
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư dán kín, trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong, giám định viên, cán bộ giám định và hình dấu tròn đỏ của Công an xã Hồ Sơn và Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; 09 đoạn ống hút nhựa hàn kín một đầu (trong đó có 08 đoạn ống hút nhựa màu xanh dương và 01 ống hút màu tím), ống thủy tinh, 01 lọ nhựa có nắp màu cam (bên trong đựng 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín một đầu), 01 mảnh giấy bạc bị cháy xém, 02 bật lửa ga màu đỏ, 02 con dao lam đã qua sử dụng, 01 kéo kim loại có tay cầm màu vàng, 01 túi nilon màu trắng miệng kẹp dính có viền đỏ, 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng, 01 đoạn ống thủy tinh vỡ hai đầu, uốn cong, 03 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 mảnh giấy bạc màu trắng có vết cháy bên trong, 01 ống nhựa màu xanh lục có một đầu vuốt nhọn
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám đen của THoàng Văn H và và số tiền 100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn U
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Iphone màu xám, số tiền 1.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại chị Triệu Thị L chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đồng bên trong có gắn 01 sim.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Hữu Lũng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng ngày 18/8/2022).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn U phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - Bị cáo; Người có QLNV liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Văn Xuân Nguyễn Thị Thu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thảo Nguyên Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Tuyết |