vanban.org

Bản án 55/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Châu Ngọc K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt: Châu Ngọc K 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 06/12/2022. Giao bị cáo Châu Ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Châu Ngọc K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Châu Ngọc K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày 06 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Đức Tâm.

Ông Lê Thành Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Có - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Châu Ngọc K, sinh ngày 12/12/1968 tại tỉnh Bến Tre.

Tên gọi khác: không.

Nơi cư trú: ấp a, thị trấn G1, huyện G, tỉnh B; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Ngọc L, sinh năm 1932 (chết) và bà Võ Thị N, sinh năm 1935; vợ: Lê Thị Minh T, sinh năm 1972; con: có 02 người, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/7/2022 cho đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Nguyễn Hữu Hải T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: ấp H, xã L1, huyện G, tỉnh B. (chết)

- Người Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Hữu Hải T: Bà Trần Thị L2, sinh năm 1959. Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh B. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Văn T, sinh năm 1967. Nơi cư trú: ấp a, thị trấn G1, huyện G, tỉnh B. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trang 1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 13 phút ngày 16/6/2021, Châu Ngọc K (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-674.09 lưu thông trên Đường tỉnh 885 theo hướng từ địa bàn huyện Giồng Trôm đi thành phố Bến Tre. Khi đến địa phận thuộc ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, K điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái của hướng đi đụng vào xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 do Nguyễn Hữu Hải T lưu thông theo hướng ngược lại. Hậu quả T tử vong tại hiện trường.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên Đường tỉnh 885 thuộc địa phận ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xác định: Đường thẳng rộng 09m. Mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có vạch kẻ đường đứt quãng màu vàng phân chia thành hai phần đường lưu thông, khu vực này không có biển báo nguy hiểm và khu dân cư. Khám nghiệm hiện trường theo hướng từ Giồng Trôm đi thành phố Bến Tre, lấy Trụ điện số 471GTrôm/42 làm mốc cố định.

Từ Trụ điện số 471GTrôm/42 về hướng thành phố Bến Tre 10,9m là đầu vết phanh 1, vết phanh in trên mặt đường có kích thước dài 21,65m, rộng nhất 0,15m; chiều hướng phát triển theo hướng khám nghiệm; đầu vết phanh 1 cách lề trái 4,60m, cuối vết phanh 1 cách lề trái 3,70m và trùng với lốp sau phía trong bên trái (bánh đôi) của xe ô tô tải biển kiểm soát 51C - 647.09.

Từ vết phanh 1 về hướng thành phố Bến Tre 6,85m là đầu vết phanh 2, vết phanh 2 in trên mặt đường có kích thước dài 18,10m, rộng nhất 0,2m; chiều hướng phát triển theo hướng khám nghiệm; đầu vết phanh 2 cách lề trái 04m, cuối vết phanh 2 cách lề trái 3,20m và trùng với lốp trước bên trái của xe ô tô tải biển kiểm soát 51C - 647.09.

Từ vết phanh 2 về hướng thành phố Bến Tre 4,25m là đầu vết phanh 3, vết phanh 3 in trên mặt đường có kích thước dài 14,10m, rộng nhất 0,2m; chiều hướng phát triển theo hướng khám nghiệm; đầu vết phanh 3 cách lề trái 5,45m, cuối vết phanh 2 cách lề trái 4,95m và trùng với lốp trước bên phải của xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-647.09.

Xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-647.09 đỗ trên mặt đường theo hướng khám nghiệm, trục sau bên trái cách lề trái 3,40m, trục sau bên phải cách lề trái 5,40m, trục trước bên trái cách lề trái 3,05m, trục trước bên phải cách lề trái 5,10m.

Từ trục trước bên trái xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-647.09 về hướng thành phố Bến Tre 43,8m là vị trí camera, camera lắp đặt trước nhà của anh Võ Huỳnh Khắc H nằm bên trong lề trái, cách lề trái 4,4m.

Từ trục sau bên trái xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-647.09 về hướng Ba Tri 14,20m là trục sau xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206, xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 nằm ngã bên trái bên ngoài mặt đường nhựa, đầu xe quay ra lề trái, trục trước xe cách lề trái 0,3 mét, trục sau xe cách lề trái 1,55m.

Từ trục trước xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 về hướng thành phố Bến Tre 7,8m là đầu nạn nhân nằm ngửa bên ngoài mặt đường nhựa (bên trong mép đường chuẩn), đầu nạn nhân hướng về thành phố Bến Tre, chân nạn nhân hướng về Giồng Trôm, đỉnh đầu nạn nhân cách lề trái 1,82m, gót chân bên trái nạn nhân cách lề trái 1,87m.

Trang 2

Tại Biên bản khám xe ô tô tải biển kiểm soát 51C – 647.09 ngày 23/6/2021 ghi nhận: phần đầu xe bên trái, mặt nạ trước bên trái, đèn pha trước bên trái, ốp nhựa trước bên trái có nhiều vết bể, vỡ, thụng từ trước ra sau và bị nhiều vết trầy xước, bong tróc sơn.

Tại Biên bản khám xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 ngày 23/6/2021: phần đầu xe và phần thân trước xe bị bể, trầy xước, hư hỏng nhiều bộ phận.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 106/TT ngày 25/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vùng trán, hố mắt trái bị sây sát, giập rách da, bầm tụ máu và có 01 vết thương hình không xác định, bờ mép nham nhở, kích thước 15 cm x 05 cm, qua vết thương thấy vỡ xương hộp sọ vùng trán, vỡ nhãn cầu trái; Mũi, miệng và hai tai có nhiều máu loãng chảy ra; Xuất huyết, tụ máu tổ chức dưới da, cơ vùng trán – thái dương trái; Vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng trán – thái dương trái, có nhiều mảnh xương rời, sụp lún vào bên trong, kích thước 12cm x 03cm; Rách màng cứng; Tụ máu ngoài và dưới màng cứng; Giập và thoát nhu mô não thùy trán hai bên ra ngoài.

2. Nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn Hữu Hải T chết do chấn thương sọ não gây vỡ xương họp sọ, xuất huyết, tụ máu nội sọ và giập não.

Tại Bản kết luận giám định số 4248/C09B ngày 16/11/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

1. Dấu vết trượt xước, nứt vỡ cụm đèn bên trái phía trước xe ô tô biển kiểm soát 51C-647.09 có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước, bám mảnh nhựa, cong biến dạng cụm tay lái bên trái xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 có chiều từ trước về sau. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi xảy ra tai nạn giao thông.

2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên phải đường Tỉnh 885 theo hướng từ thành phố Bến Tre đi huyện Ba Tri.

3. Khi va chạm, xe ô tô biển kiểm soát 51C-647.09 chuyển động trên đường Tỉnh 885 theo hướng từ huyện Ba Tri đi thành phố Bến Tre, xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 chuyển động theo hướng ngược lại.

Tại Bản kết luận giám định số 4244/C09B ngày 21/12/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Trước, trong và sau khi tai nạn giao thông đường bộ, hệ thống phanh và hệ thống lái của xe ô tô biển kiểm soát 51C-647.09 hoạt động bình thường, đảm bảo tình trạng kỹ thuật khi tham gia giao thông; Không đủ điều kiện xác định tình trạng kỹ thuật xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 khi tham gia giao thông; Tốc độ xe ô tô biển kiểm soát 51C-647.09 khi tham gia giao thông trong khoảng 57km/h đến 60km/h; Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 khi tham gia giao thông.

Tại Bản kết luận giám định số 4614/C09B ngày 10/12/2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

1. Tập tin video gửi giám định ký hiệu A nêu tại mục II.1 liên tục về nội dung, không phát hiện thấy dấu vết bị chỉnh sửa, cắt, ghép.

Trang 3

2. Phần đường di chuyển, hướng di chuyển, vị trí va chạm của xe gắn máy và xe ô tô tải liên quan đến vụ tai nạn giao thông được mô tô chi tiết tại bản ảnh đính kèm theo Kết luận giám định này.

3. Khi xảy ra va chạm, xe gắn máy (không rõ bộ phận nào) đã va chạm vào phần phía trước bên trái của xe ô tô tải.

Tại Bản kết luận giám định số 173/2022/KL-KTHS ngày 05/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Giấy phép lái xe số 830065000017, đề ngày 16/10/2017 của ông Châu Ngọc K, sinh ngày 12/12/1968, nơi cư trú: z, Ấp a, thị trấn G1, huyện G, tỉnh B là giấy thật.

Tạm giữ đồ vật, phương tiện:

- 01 xe gắn máy, nhãn hiệu FEROLI; màu Đỏ - Đen, biển kiểm soát 71FL-3206.

- 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu HYUNDAI, màu sơn Trắng, biển kiểm soát 51C-647.09; số người được phép chở: 03 người, tải trọng: 4400 kg.

- 01 Giấy phép lái xe số 830065000017 cấp ngày 16/10/2017 của Châu Ngọc Kiệt.

- Nhiều mảnh vỡ bằng nhựa màu đỏ.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Hữu Hải T là bà Trần Thị L và bị cáo Châu Ngọc K thỏa thuận bồi thường số tiền 53.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong.

Đối với xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206, tai nạn bị hư hỏng, bà Trần Thị Lan không yêu cầu Châu Ngọc K bồi thường.

Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 51C – 647.09, sau khi xảy ra tai nạn bị hư hỏng, ông Trần Văn T không yêu cầu Châu Ngọc K bồi thường.

Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định:

- Nhiều mảnh vỡ của xe bằng nhựa màu đỏ.

Bản Cáo trạng số: 52/CT-VKSGT, ngày 09/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm truy tố Châu Ngọc K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Châu Ngọc K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Châu Ngọc K từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận Quá trình điều tra đại diện hợp pháp của người bị hại Nguyễn Hữu Hải T là bà Trần Thị L và bị cáo Châu Ngọc K thỏa thuận bồi thường số tiền 53.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong, bà Trần Thị L không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Trang 4

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: nhiều mảnh vỡ của xe bằng nhựa màu đỏ do không còn giá trị sử dụng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo cảm ơn gia đình bị hại đã đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo; đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Trôm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Châu Ngọc K thừa nhận vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 16/6/2021, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 51C-674.09 lưu thông trên đường tỉnh 885 hướng từ huyện Ba Tri đi thành phố Bến Tre, khi đến khu vực thuộc ấp Phong Điền, xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre do điều khiển phương tiện đi không đúng phần đường theo quy định nên xảy ra va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 do bị hại Nguyễn Hữu Hải T đều khiển đi hướng ngược lại (điểm va chạm nằm bên trái phần đường theo hướng bị cáo lưu thông), hậu quả bị hại Tiến chết do chấn thương sọ não gây vỡ xương họp sọ, xuất huyết, tụ máu nội sọ và giập não nguyên nhân từ vụ tai nạn gây ra. Do đó, bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Hành vi trên của bị cáo Châu Ngọc K đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giữ nguyên quan điểm truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.

Hành vi trên của bị cáo trực tiếp xâm phạm an toàn công cộng, hậu quả làm chết một người, gây nguy hại lớn cho xã hội, gây tổn thương rất lớn cho gia đình nạn nhân nên cần phải xử lý nghiêm.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xem là có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định tội, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Châu Ngọc K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã bồi thường xong thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại; gia đình bị hại có đề nghị cho bị cáo được hưởng

Trang 5

án treo; Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo gây ra là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác nhưng bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo không có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền nơi cư trú phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện để cảm hóa, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 51C – 647.09 mà bị cáo điều khiển thuộc quyền sở hữu của ông Trần Văn T, sinh năm 1967. Nơi cư trú: ấp a, thị trấn G1, huyện G1, tỉnh B. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại phương tiện nói trên cho chủ sở hữu là phù hợp. Đối với xe gắn máy biển kiểm soát 71FL -3206 do bị hại Nguyễn Hữu Hải T điều khiển, người đại diện hợp pháp là bà Trần Thị L đã nhận thay là phù hợp. Đối với nhiều mảnh vỡ của xe bằng nhựa màu đỏ thu giữ tại hiện trường do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận trong giai đoạn điều tra bị cáo và gia đình bị hại thống nhất bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 53.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong số tiền nói trên và tại phiên tòa gia đình bị hại không yêu cầu bị bồi thường khoản nào khác nên không xem xét.

Đối với xe gắn máy biển kiểm soát 71FL-3206 và ô tô tải biển kiểm soát 51C – 647.09 bị hư hỏng sau tai nạn, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Châu Ngọc K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Châu Ngọc K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Phạt: Châu Ngọc K 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 06/12/2022.

Giao bị cáo Châu Ngọc K cho Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Trôm, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre kết hợp cùng với gia đình để giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trang 6

Việc giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc đối với người được hưởng án treo thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Châu Ngọc K và gia đình bị hại Nguyễn Hữu Hải T đã thỏa thuận việc bồi thường cho gia đình bị hại T số tiền là 53.000.000 (năm mươi ba triệu) đồng, bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ của xe bằng nhựa màu đỏ (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2022 giữa Công an huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Châu Ngọc K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ