vanban.org

Bản án 55/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 11/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng Hình sự ; chấp nhận kháng cáo của bị cáo NVD, sử a Bản án sơ thẩ m, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Giao bị cáo NVD cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NVD - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng Hình sự ; chấp nhận kháng cáo của bị cáo NVD, sử a Bản án sơ thẩ m, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HS-PT
Ngày 11-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Bà Bùi Thị Thúy Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 16/2022/TLPT-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021 đối vớ i bi ̣ cáo NVD do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2022/HS-ST ngày 07 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

NVD, sinh ngày 04 tháng 02 năm 1994, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 3, A, xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; bị cáo có vợ F và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17-5-2021 đến ngày 26-5-2021 chuyển tạm giam, đến ngày 09-7-2021 được thay thế sang biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, có mặt

- Các bị cáo không có kháng cáo không bị kháng nghị: BC1, BC2, BC3, BC4, BC5, BC6, BC7, BC8, BC9, BC10, BC11, BC12, BC13, BC14.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 16-5-2021, Công an xa Tam Đa phát hiện, bắt quả tang̃ tại nhà G, sinh năm 1979 ở thôn H, xã I, huyê ̣n J, thành phố Hải Phòng có một số đối tượng đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền, 25 đối tượng bị bắt giữ gồm: G; K, sinh năm 1985 ở 33/342, L, phườ ng M, quâ ̣n N, thành phố Hải Phòng; O sinh năm 1995, ở thôn P, xã Q, huyê ̣n R, thành phố Hải Phòng; S, sinh năm 1981 ở khu 6, phườ ng T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; V, sinh năm 1989 ở thôn W, xã X, huyê ̣n J, thành phố Hải Phòng; Y, sinh năm 1991 ở thôn Z, xã AA, huyê ̣n AB, thành phố Hải Phòng ; AC, sinh năm 1978 ở thôn AD, xã AE, huyê ̣n AB, thành phố Hải Phòng; AF, sinh năm 1996 ở thôn AG, xã AH, huyê ̣n J, thành phố Hải Phòng; AI, sinh năm 1970 ở thôn AJ, xã AK, huyê ̣n AB, thành phố Hải Phòng ; AL, sinh năm 1992 ở thôn AD, xã AE, huyê ̣n AB, thành phố Hải Phòng; cùng các bị cáo BC1, BC2, BC3, BC9, BC10, BC12, BC4, BC5, BC6, NVD, BC12, BC6, BC14, BC9, BC11. Tang vật thu giữ gồm: Thu tại chiếu bạc số tiền là 37.500.000 đồng cùng 01 bát sứ, 01 đĩa sứ; 04 quân vi ̣ hình tròn ; 02 chiếc chiếu. Thu tại bàn làm việc cạnh nơi đánh bạc 01 búa đinh loại nhỏ đầu bằng sắt cán bằng gỗ, 01 đột bằng sắt, 01 miếng gỗ nhỏ, 02 quân bài tú lơ khơ đã bị đột thủng; 01 đột lỗ bằng nhựa màu vàng cam . Thu ta ̣i nóc tủ đứng số tiền là 65.650.000 đồng, tại gầm tủ đứng số tiền là 104.700.000 đồng, tại gầm tủ kệ tivi số tiền 11.500.000 đồng. Thu trên người BC13 01 điện thoại Iphone 12 pro màu xanh đen bên trong lắp sim số 0944134396 cùng số tiền 770.000 đồng, BC8 01 điện thoại Iphone 6s màu bạc đen bên trong lắp sim số 0928114444 cùng số tiền 30.000.000 đồng, BC4 01 điện thoại Oppo màu đen bên trong lắp sim số 0968793498 và 01 điện thoại nokia đen trắng bên trong lắp sim số 0961529839 cùng số tiền 1.110.000 đồng, BC7 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng gold bên trong lắp sim số 0705866789 và 01 điện thoại nokia đen trắng bên trong lắp sim số 0763193333 cùng số tiền 37.550.000 đồng, AQ 01 điện thoại Iphone 5 màu vàng bên trong lắp sim số 0868714338 và 01 điện thoại Nokia TA-1034 màu đen bên trong không lắp sim số cùng số tiền 10.660.000 đồng, Lê Văn Hiếu 01 điện thoại Iphone 11 pro max màu xanh bên trong lắp sim số 0949894078 cùng số tiền 2.200.000 đồng, NVD 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen bên trong lắp sim số 0981439222 cùng số tiền 7.000.000 đồng, BC9 01 điện thoại Oppo màu xanh bên trong lắp sim số 0356193066 cùng số tiền 1.130.000 đồng, Nguyễn Phú Đạt 01 điện thoại Iphone xs max màu vàng bên trong lắp sim số 0868869444 và 01 điện thoại nokia màu xanh bên trong lắp sim số 0927481999 cùng số tiền 595.000 đồng, AW 01 điện thoại X màu đen bên trong lắp sim số 0967631111 và 01 điện thoại Nokia đen trắng bên trong lắp sim số 0378026674 cùng số tiền 1.340.000 đồng, BC6 01 điện thoại Iphone 6 plus màu bạc bên trong lắp sim số 0976339206 cùng số tiền 1.900.000 đồng, BC5 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu vàng bên trong lắp sim số 0983833444 cùng số tiền 154.425.000 đồng, BC14 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng bên trong lắp sim số 0944958898 cùng số tiền 100.000 đồng, BC11 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh bên trong lắp sim số 0968780882 cùng số tiền 28.560.000 đồng, AT 01 điện thoại bên trong lắp sim số 0974568986 cùng số tiền 3.950.000 đồng, AN số tiền 12.000.000 đồng, BC10 01 điện thoại Iphone 12 pro max màu vàng bên trong lắp sim số 0981682568, AU 01 điện thoại Iphone 6 plus màu ghi bên trong lắp sim số 0394804802, BC1 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng bên trong lắp sim số 0979073686 và 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi bên trong lắp sim số 0926322999 cùng số tiền 18.390.000 đồng, BC3 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng gold bên trong lắp sim số 0337500957 và 01 chiếc áo phông cộc tay màu trắng cùng số tiền 1.000.000 đồng, AM 01 điện thoại Iphone pro 11 max màu trắng đen bên trong lắp sim số 0979328222 cùng số tiền 3.700.000 đồng, AV 01 điện thoại Iphone 8 plus màu sơn đỏ bên trong lắp sim số 0905304953 cùng số tiền 5.515.000 đồng, AP 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng bên trong lắp sim số 0962986968. Thu giữ 01 xe ô tô BKS 15A-49263, nhãn hiệu Mazda 3 màu trắng của BC5; xe ô tô BKS 15A-188.25, nhãn hiệu Camry màu đen của BC2; 01 xe ô tô BKS 15A-41432, nhãn hiệu Elantra màu sơn đỏ của BC1; 01 xe ô tô BKS 15A-150.92, nhãn hiệu Innova màu bạc của BC10. Ngay sau đó, Công an huyện Vĩnh Bảo đã dẫn giải các đối tượng về trụ sở để điều tra làm rõ. Quá trình làm việc tại Công an huyện Vĩnh Bảo, lợi dụng sơ hở đối tượng AT bỏ trốn.

Ngày 17-5-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của AP và thu giữ của chị AS sinh năm 1980 (vợ của AP) 01 điện thoại hiệu Energizer bên trong lắp sim 0988836259.

Sau khi sự việc xảy ra ngày 18-5-2021, BC2 đến Công an huyện Vĩnh Bảo đầu thú về hành vi Tổ chức đánh bạc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo BC1, BC13, BC9, BC8 và các anh AM, AN, AO khai nhận: Tối ngày 16-5-2021, BC13, BC9, BC8 và các anh AM, AN, AO đến nhà BC1 chơi. Trong khi mọi người đang ngồi chơi uống nước thì BC1 nhận được điện thoại của BC2 hỏi có người đánh bạc không, BC1 trả lời là có thì BC2 bảo BC1 tìm địa điểm đánh bạc để mấy anh em của BC2 sang. Sau đó BC1 điện cho AP hỏi dưới chỗ AP có chỗ đánh bạc không thì được AP trả lời là có căn nhà hoang cạnh nhà AP xuống xem có chơi được không. Sau đó BC1 rủ BC13, BC9, BC10, BC11, BC12, BC18 đi đánh bạc, mọi người đồng ý. BC1 dùng xe ô tô BKS 15A-41432, nhãn hiệu Elantra màu sơn đỏ chở mọi người đi đánh bạc. Trên đường đi, BC1 gọi điện thông báo cho BC2 đã tìm được địa điểm đánh bạc ở bãi vật liệu xây dựng chân cầu AR, thuộc địa phận xã I, huyện Vĩnh Bảo. BC1 tiếp tục điện cho AQ rủ AQ đi đánh bạc. Khi đến nơi, BC1 đi ra căn nhà hoang cạnh bờ sông thì thấy địa điểm này không thể đánh bạc được vì không có điện nên BC1 quyết định chọn phòng khách nhà AP là nơi đánh bạc. BC1 đi ra đầu đường đón xe của BC2 vào bãi vật liệu xây dựng. Sau đó một mình BC1 vào kê gọn bàn ghế trong phòng khách nhà AP và lấy 01 chiếc chăn treo lên dây phơi trước hiên nhà che cửa kính của phòng khách để tránh bị phát hiện. Trong quá trình tổ chức cho các đối tượng đánh bạc thì BC1 nhờ BC3 thu tiền hồ. BC3 thu được 2.200.000 đồng tiền hồ của người chơi đưa lại cho BC1. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của các bị cáo BC2, BC3 và các anh AW, AU thể hiện: Tối ngày 16-5-2021, BC2 gọi điện bảo BC1 tìm địa điểm đánh bạc để BC2 rủ mấy anh em sang chơi, BC1 đồng ý. Sau đó, BC2 chưa kịp rủ thì có AX, AY, BC3, Tường đã đến nhà BC2 chơi. BC2 rủ những người này sang Vĩnh Bảo chơi rồi đưa chìa khóa xe ô tô BKS 15A-188.25, nhãn hiệu Camry màu đen cho AZ và bảo AZ lái xe chở cả nhóm đi. Trên đường đi BC2 nhận được điện thoại của BC1 thông báo đã tìm được địa điểm đánh bạc là khu vực gần cầu AR, thuộc địa phận xã I, huyện BA, thành phố Hải Phòng và bảo BC2 cứ đi đến chân cầu AR thì BC1 sẽ ra đón. Sau đó BC2 nói với mọi người trên xe là “BC1 bảo chỗ Cầu AR có mấy chân đánh bạc, mấy anh em vào chơi thì chơi”. BC2 bảo AZ lái xe đến chân cầu AR thì BC1 ra đón và dẫn mọi người vào một ngôi nhà hoang ở gần cầu AR nhưng do không có điện nên BC1 dẫn mọi người vào phòng khách một ngôi nhà ở gần đó. Tại đây BC2 không vào chơi đánh bạc mà ngồi ở ghế đá ngoài sân còn AY vào xóc cái, BC3 vào thu hồ cho BC1 và giam tiền (đi thu tiền của người thua trả cho người thắng) giúp những người khác đánh bạc, AX và AZ vào ngồi xem mọi người đánh bạc. Sau đó, BC2 nhận được điện thoại của BC5. Bị cáo BC5 hỏi BC2 đang ở đâu thì BC2 nói đang ở Cầu AR và rủ BC5 đến đánh bạc. Một lúc sau, BC2 gọi điện cho anh Nguyễn Văn Hảo sinh năm 1982 ở khu 6, thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng đến đón về và để lại xe ô tô của BC2 cho AZ đi. Trong lúc chờ anh Hảo sang đón thì BC2 thấy có một người đàn ông đi xe ô tô màu đen về và giới thiệu là chủ bãi vật liệu xây dựng. Nói chuyện được 1- 2 phút thì BC2 đi bộ ra ngoài đầu đường để Hảo đón về. Trên đường về qua cầu AR thì BC2 được biết có lực lượng Công an đến phát hiện bắt giữ nhóm đánh bạc tại bãi vật liệu xây dựng mà BC2 vừa rời khỏi. Ngày 18-5-2021, BC2 đến Công an huyện Vĩnh Bảo để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi Tổ chức đánh bạc của mình.

Lời khai của các bị cáo BC4, BC7, NVD, BC10, BC11 và anh Nguyễn Phú Đạt thể hiện: Tối ngày 16-5-2021, BC10 đang ở quán bi da gần nhà chơi cùng Đạt, NVD thì BC4 đến trả xe ô tô Inova biển kiểm soát 15A–150.92 mà BC4 đã mượn BC10 trước đó. Sau đó, mọi người rủ nhau ra cầu Nguyệt thuộc địa phận huyện C để uống nước và BC4 lái xe chở mọi người đi. Đến nơi mọi người gặp BC11 rồi cùng rủ nhau đi ra cầu Khuể, thuộc địa phận huyện Tiên Lãng chơi. Trên đường đi BC9 gọi điện rủ BC7 đi chơi cùng và hẹn gặp BC7 ở chân cầu Khuể. Khi đến cầu Khuể đứng chờ một lúc thì BC7 đến và lên xe đi cùng. Trên xe mọi người cùng rủ nhau đi đánh bạc tại chân cầu AR, thuộc địa phận xã I, huyện BA, thành phố Hải Phòng. BC4 điều khiển xe đến khu vực chân cầu AR thì nhìn thấy xe ô tô của BC2 nên BC4 gọi điện hỏi BC2 đang ở đâu. BC2 nói đang ngồi trong sân nên nhóm của BC4 đi vào. BC4, BC7, NVD, BC10, BC11 vào tham gia đánh bạc với những người trong nhà còn Đạt ngồi xem.

Lời khai của bị cáo BC5 thể hiện: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16-5-2021, BC5 đang điều khiển xe ô tô Mazda 15A–492.63 trên đường đi đến nhà anh Vũ Văn Hà ở thôn Nghiện, xã Quyết Tiến, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng để trả nợ thì BC5 có gọi điện thoại cho BC2 thì được BC2 rủ đi đánh bạc. BC5 đồng ý rồi BC2 chỉ đường cho BC5 vào bãi vật liệu xây dựng dưới gầm cầu AR thuộc xã I, huyện BA. BC5 đi vào thì thấy có nhiều xe ô tô đã đỗ ở bãi vật liệu xây dựng. BC5 xuống xe đi bộ vào trong dãy nhà ngang. Khi vào phòng khách BC5 thấy có đông người đang ngồi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa nên BC5 vào tham gia cùng.

Lời khai của các bị cáo BC12, BC14 và các đối tượng AV, AQ thể hiện: Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 16-5-2021, khi AQ đang ở cùng với BC12 tại xã BC11 BC12, huyện Tiên Lãng thì nhận được điện thoại của BC1 gọi rủ AQ đi đến khu vực cầu AR thuộc địa phận xã I, huyện BA để đánh bạc. Sau đó BC12 xin AQ cho đi cùng, AQ không đồng ý vì BC12 là phụ nữ nhưng BC12 vẫn cố đi nên AQ không cản được. Trên đường đi, BC12 dùng điện thoại của AQ gọi điện cho BC14 và Mai nói chuyện và có kể đang đi đến cầu AR xem đánh bạc. Một lúc sau AQ, BC12, BC14, Mai có mặt tại căn nhà gần cầu AR, thấy đông người đang tham gia đánh bạc nên BC12, BC14 vào đánh bạc cùng. Riêng AQ chưa kịp chơi thì bị bắt còn Mai không thừa nhận việc tham gia đánh bạc.

Lời khai của bị cáo BC6 thể hiện: Vào khoảng 22 giờ ngày 16-5-2021, BC6 bắt taxi từ nhà nghỉ Galaxy ở thị trấn Tiên Lãng đến khu vực cầu AR, xã I, huyện BA. Khi đến gần cầu AR thì BC6 xuống xe và gặp một người đàn ông đeo khẩu trang chỉ vào bãi vật liệu xây dựng chân cầu AR có đánh bạc nên BC6 đã đi vào. Khi BC6 vào thì đã có đông người tụ tập đến khoảng 10 phút sau thì mọi người rủ nhau chơi đánh bạc nên BC6 đã tham gia đánh bạc cùng.

Lời khai của Lê Văn Hiếu thể hiện: Vào tối ngày 16-5-2021, Hiếu đi taxi từ nội thành Hải Phòng về nhà AP chơi. Khi vào trong nhà AP thì Hiếu thấy có rất nhiều người đang ngồi xem và chơi đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức xóc đĩa. Do toàn người lạ nên Hiếu không biết ai chơi hay không. Hiếu ngồi xem được một lúc thì lực lượng Công an huyện Vĩnh Bảo đến phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của AP thể hiện: Vào tối ngày 16-5-2021, BC1 gọi điện cho AP nói có mấy anh em đang có nhu cầu đánh bạc, có địa điểm nào chơi không thì AP trả lời là có căn nhà hoang cạnh bờ sông đấy, BC1 hỏi có chơi được không thì AP trả lời là tùy ông. Rồi BC1 tiếp tục hỏi AP là có dây điện không cho BC1 kéo nhờ thì AP bảo nhà không có dây đâu, thử hỏi anh BB ở gầm cầu xem. Sau đó BC1 có gọi điện cho AP một cuộc điện thoại vào khoảng 22 giờ 08 phút với nội dung là có khách đến chơi đông rồi nhưng không có điện thì chơi kiểu gì. AP bảo để AP gọi cho anh BB. AP tắt máy và điện cho ông BB lúc 22 giờ 09 phút với nội dung: “anh có dây điện không mắc điện hộ bạn em” thì ông BB nói “không có dây” và tắt máy. Sau đó BC1 gọi điện cho AP khoảng 03 cuộc nữa nội dung đều là hỏi AP về chưa về đến đâu rồi thì AP đều trả lời đang về rồi nhưng thực tế AP đang say rượu nằm trên xe ô tô ở khu Công nghiệp AX Liên, huyện BA nhưng nói dối BC1 như thế. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, BC1 tiếp tục gọi cho AP nói anh em đánh bạc trong nhà AP thì AP nói không được và tắt máy. Đến khoảng 23 giờ 00 AP về nhà, khi đi đến cổng thì quay ra xe ô tô đỗ ở gầm cầu AR để lấy sạc điện thoại rồi quay lại thì thấy có đông người đánh bạc trong nhà mình. AP đứng ở hiên nhà gọi BC1 ra và yêu cầu giải tán cùng lúc này lực lượng Công an xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo vào bắt quả tang.

Lời khai của vợ chồng ông BB và bà BC thể hiện: Khoảng 22 giờ ngày 16-5-2021, ông BB cùng với bà BC đang ở gầm cầu AR thì nhận được điện thoại của AP bảo đun nước và mắc đây điện hộ. Sau đó ông BB trả lời không có dây điện. Ông BB có nói với bà BC về việc AP nhờ mắc điện nhưng bà BC nói đêm hôm mắc điện nguy hiểm và không cho mắc. Sau đó bà BC đi vào sân nhà AP còn ông BB ở lại gầm cầu. Một lúc sau có một số người đi ô tô đến và đi vào trong nhà AP. Bà BC ngồi tại khu vực bàn ghế đá tại sân nhà AP thì có người đến hỏi: “AP có nhà không?”. Bà BC bảo AP không có nhà và ngồi đó khoảng 05 phút sau thì đi ra gầm cầu. Đến khoảng 23 giờ thì thấy lực lượng Công an xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo bắt quả tang nên mới đi ra xem thì thấy AP đã có mặt ở nhà, không biết AP về lúc nào.

Ngoài ra các bị cáo còn khai nhận về việc đánh bạc theo cách thức, quy ước cụ thể như sau: Mỗi ván chơi có hai cửa là chẵn và lẻ để cho những người chơi lựa chọn đặt tiền cược vào cửa mà mình thích với số tiền đặt cược tối thiểu là 100.000 đồng nhưng không giới hạn mức tối đa. Sau khi AT (người cầm cái) cho bốn quân vị vào trong bộ bát đĩa xóc lên rồi đặt xuống cho những người chơi đặt tiền vào các cửa chẵn, lẻ thì người cầm cái sẽ mở bát ra. Nếu khi đó có hai hoặc cả bốn quân vị cùng một màu thì là chẵn và người đặt tiền ở cửa này thắng còn người đặt tiền ở cửa lẻ thua, nếu có một quân vị có màu khác với ba quân vị còn lại thì là lẻ và người nào đặt tiền ở cửa này thắng, người đặt tiền ở cửa chẵn thua. Nếu người nào thắng trong ván đó thì được đúng số tiền mà mình đã đặt cược và ngược lại, người nào thua thì mất toàn bộ số tiền mà mình đã đặt cược. Trong quá trình tổ chức đánh bạc, BC1 nhờ BC3 đi thu của mỗi người chơi 200.000 đồng tiền hồ. Đồng thời, BC3 còn đi thu tiền của người thua trả cho người thắng, ngoài ra không có ai trông coi, canh gác cho việc đánh bạc.

Về việc thắng thua, số tiền thu hồ, số tiền tham gia đánh bạc, các bị cáo khai nhận cụ thể như sau:

Trước khi tổ chức đánh bạc, BC1 có 18.390.000 đồng. Sau đó BC3 thu được 2.200.000 đồng tiền hồ và đưa cho BC1. Số tiền hồ này khi Công an đến bắt quả tang, BC1 đã để lên chiếu bạc.

BC13 có 3.770.000 đồng, nhưng chỉ sử dụng 3.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 770.000 đồng là tiền chi tiêu cá nhân, không dùng để đánh bạc và đã nộp 200.000 đồng tiền hồ và đang thua 2.800.000 đồng thì bị bắt.

BC8 có 25.200.000 đồng dùng để đánh bạc, đã nộp 200.000 đồng tiền hồ và đang thắng 5.000.000 đồng thì bị bắt.

BC4 có 1.510.000 đồng dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thua 1.110.000 đồng thì bị bắt.

BC7 có 10.550.000 đồng dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thắng 27.000.000 đồng thì bị bắt.

NVD có 15.000.000 đồng, nhưng chỉ sử dụng 8.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 7.000.000 đồng là tiền trả nợ, không dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thua 3.000.000 đồng thì bị bắt.

BC9 có 1.530.000 đồng dùng để đánh bạc, đã nộp 200.000 đồng tiền hồ và đang thua 200.000 đồng thì bị bắt.

BC6 có 1.900.000 đồng dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang hòa thì bị bắt.

BC5 có 156.425.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 6.425.000 đồng để đánh bạc, còn lại 150.000.000 đồng là tiền trả nợ, không dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thua 2.000.000 đồng thì bị bắt.

BC14 có 900.000 đồng nhưng chỉ sử dụng sử dụng 800.000 đồng để đánh bạc, còn lại 100.000 đồng để trả tiền xe đi về, không dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thua 400.000 đồng thì bị bắt.

BC11 có 25.560.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 20.560.000 đồng không dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thắng 3.000.000 đồng thì bị bắt.

BC10 có 600.000 đồng dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thua 600.000 đồng thì bị bắt.

BC12 có 1.800.000 đồng, dùng để đánh bạc, chưa nộp tiền hồ và đang thua 600.000 đồng thì bị bắt.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo đã tiến hành các hoạt động nhận dạng, đối chất, thực nghiệm điều tra.

Kết quả nhận dạng: Bị cáo BC14, BC5 nhận ra AV là người có tham gia đánh bạc. Các bị cáo BC12, BC7, BC5 nhận dạng ra BC3 là người đi giam tiền. Bị cáo BC5 nhận dạng ra BC2 là người rủ BC5 đánh bạc. Bị cáo BC1 nhận dạng ra BC2 là người nhờ BC1 tìm kiếm địa điểm đánh bạc. Các bị cáo BC8 và BC10 nhận dạng ra AT là người xóc cái. Bị cáo BC2 không nhận dạng được chính xác ai là người mà BC2 đã gặp ở sân khu vực đánh bạc và nhận là chủ bãi vật liệu xây dựng.

Theo kết quả đối chất giữa BC14, BC5 và AV: Thì BC14, BC5 khẳng định Mai có tham gia đánh bạc còn Mai không thừa nhận việc tham gia đánh bạc. Tuy nhiên có mâu thuẫn trong lời khai của BC14 và BC5 về vị trí ngồi của Mai tại khu vực đánh bạc.

Theo kết quả đối chất giữa BC2 và AP: BC2 trình bày khi BC2 ngồi uống nước tại bàn ghế đá ở sân khu vực đánh bạc thì có người đàn ông đi ô tô về và vào ngồi gần BC2 rồi tự giới thiệu là chủ bãi vật liệu xây dựng nhưng AP khẳng định không gặp ai ở sân nhà mình và không giới thiệu với ai rằng mình là chủ bãi vật liệu xây dựng.

Theo kết quả đối chất giữa BC2 và BC1: BC2 trình bày nhìn thấy BC1 treo chăn lên dây phơi trước hiên nhà AP cùng với một người khác nhưng BC1 khẳng định chỉ thực hiện việc treo chăn một mình.

Theo kết quả đối chất giữa BC2 và ông BB: BC2 trình bày có vào sân nhà AP và ngồi uống nước cùng vợ chồng ông bà bảo vệ bãi vật liệu xây dựng. Sau đó BC2 nhìn thấy BC1 treo chăn lên dây phơi trước hiên nhà AP cùng với một người đàn ông nhưng ông BB khẳng định tối ngày 16-5-2021, ông BB không vào nhà AP.

Theo kết quả thực nghiệm điều tra: Khi ở vào vị trí của BC1 ở trong phòng khách – nơi thực hiện việc đánh bạc thì không thể nhìn rõ ai là người đứng ở hiên bên ngoài cửa phòng nơi đánh bạc.

Theo kết quả kiểm tra điện thoại và thu giữ thư tín, điện tín thấy: Có phát sinh các cuộc gọi như lời khai của các bị cáo và các đối tượng có liên quan như trình bày trên.

Tại các bản Kết luận giám định số 6697/C09-P6 ngày 06-9-2021 và số 5889/C09-P6 ngày 04-8-2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an thể hiện: Trong khoảng thời gian từ ngày 14-5-2021 đến ngày 16-5-2021, tìm thấy nhiều dữ liệu thông tin nghi có liên quan đến vụ án có trong điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo và các đối tượng có liên quan.

Tại Bản án sơ thẩm số 08/2022/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử: Phạt bị cáo NVD 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo NVD kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm : Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo; bị cáo không có ý kiến gì về tội danh nhưng bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo - đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính, phải nuôi gia đình (bố mẹ già,con nhỏ) ; bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, bị cáo đã nộp tiền phạt số tiền 15.000.000 đồng mà bản án sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và hứa sẽ không tái phạm.

Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân thà nh phố Hải Phò ng phá t biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung do cấp sơ thẩm tuyên là 15 triệu đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy: Bị cáo phạm tội với vai trò thứ yếu, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính. Từ phân tich trên , đề nghị Hội đồng

́ xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm , giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo NVD đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo NVD tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện nội dung: Tối ngày 16/5/2021, tại nhà G ở thôn H, xã I, huyê ̣n J, thành phố Hải Phòng,các bị cáo BC2, BC1, BC3, AT đã thống nhất phân công cụ thể: Bị cáo BC1 tìm địa điểm đánh bạc, che chắn nơi đánh bạc, rủ người đến đánh bạc (chơi xóc đĩa được thua bằng tiền), thu tiền hồ của những người đến chơi; bị cáo BC2 rủ người đến chơi xóc đĩa; bị cáo BC3 thu tiền hồ và thu hộ tiền của bên thua, giam tiền cho bên thắng, AY xóc cái. Các bị cáo được rủ đến tham gia chơi xóc đĩa gồm có: BC4, BC5, BC6, BC7, BC8, BC9, BC10, BC11, NVD, BC12, BC13, BC14. Trong lúc đang chơi xóc đĩa, các bị cáo bị bắt quả tang và thu giữ tại chiếu bạc số tiền sử dụng để đánh bạc là 121.615.000 đồng, trong đó có 37.500.000 đồng thu được tại chiếu bạc và 84.115.000 đồng thu giữ trong người của BC11, BC4, BC10, BC5, BC6, BC9, BC7 được sử dụng vào việc đánh bạc. BC1 nhờ BC3 thu được 2.200.000 đồng tiền hồ của các đối tượng chơi xóc đĩa. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo BC2, BC1, BC3 đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” vi phạm Điều 322 Bộ luật Hình sự và xét xử các bị cáo BC4, BC5, BC6, BC7, BC8, BC9, BC10, BC11, NVD, BC12, BC13, BC14 đồng phạm tội “Đánh bạc” vi phạm điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng , hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét kháng cáo của bị cáoNVD xin được hưởng án treo.

Xét trong vụ án này có đồng phạm, các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền khác nhau, cụ thể: BC8 đánh bạc số tiền 25.200.000 đồng, BC7 đánh bạc số tiền 10.550.000 đồng, NVD đánh bạc số tiền 8000.000 đồng, BC5 đánh bạc số tiền 6.425.000 đồng, BC11 đánh bạc số tiền 5.000.000 đồng, BC13 đánh bạc số tiền 3.000.000 đồng, BC6 đánh bạc số tiền 1.900.000 đồng, BC12 đánh bạc số tiền 1.800.000 đồng, BC9 đánh bạc 1.530.000 đồng,BC4 đánh bạc số tiền 1.510.000 đồng, BC14 đánh bạc số tiền 800.000 đồng và bị cáo BC10 đánh bạc số tiền ít nhất là 600.000 đồng. Đồng thời cũng xét: Nhân thân của các bị cáo BC8, NVD, BC13, BC9, BC14, BC10 đều chưa có tiền án tiền sự. Tuy nhiên, Tòa cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo đều với mức hình phạt là 36 tháng tù và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự nhưng chỉ riêng bị NVD, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Xét thấy, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp 15 triệu đồng tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xét bị cáo thành thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự); đồng thời cũng xét nhân thân bị cáo BC9 chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo.

Vì vậy, để đảm bảo sự phân hóa vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đảm bảo sự công bằng của các bị cáo trong cùng một vụ án nên không cần thiết phải cách ly bị cáo NVD khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo , sửa Bản án sơ thẩm , giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo NVD hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng Hình sự ; chấp nhận kháng cáo của bị cáo NVD, sử a Bản án sơ thẩ m, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: NVD 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo NVD cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo NVD kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Ghi nhận bị cáo NVD đã nộp số tiền 15.200.000đ (Mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001585 ngày 22 tháng 4 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo NVD không phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số

08/2022/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ