vanban.org

Bản án 55/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HNGĐ–ST
Ngày: 15/8/2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT – TP CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Việt Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Ngoan

2. Bà Huỳnh Thị Mỹ Nhung

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 138/2022/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H – sinh năm 1995;

Địa chỉ: Ấp Vĩnh Thành, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Huỳnh Trung Ng - sinh năm 1987;

Địa chỉ: Khu vực Tân An, phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 03 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Ng do tự quen biết rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21 vào ngày 12 tháng 3 năm 2018. Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian sau này thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm nên làm cho cuộc sống gia đình không còn hạnh phúc. Hiện tại vợ cH đã ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân ông, bà không có biên pháp xóa bỏ mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm. Nay bà H nhận thấy cuộc hôn nhân này không còn hạnh phúc và bà H cũng không còn tình cảm với ông Ng nên xin ly hôn.

- Về con chung: Ông, bà có 01 người con chung tên Huỳnh Thị Ng Nh sinh ngày 17/5/2018. Khi ly hôn bà H yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Như đến trưởng thành, không yêu cầu ông Ng cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Có 01 xe mô tô nhãn hiện Wave, biển kiểm soát 65F1-540.37 do ông Huỳnh Trung Ng đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, hiện tại bà H đang quản lý sử dụng. Khi ly hôn bà H thống nhất giải quyết tài sản chung theo ý kiến của ông Ng.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai ngày 28/7/2022, bị đơn ông Huỳnh Trung Ng trình bày:

Ông Ng thống nhất ông, bà tiến tới hôn nhân có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thuận Hưng, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo quy định pháp luật.

Về nguyên nhân mâu thuẫn thì ông Ng cho rằng trong thời gian chung sống, giữa vợ cH bất đồng quan điểm nên thường xãy ra cải vả làm cuộc sống không hạnh phúc. Hiện tại ông Ng và bà H đã ly thân với nhau. Nay qua yêu cầu xin ly hôn của bà H thì ông Ng đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông Ng cũng thống nhất ông và bà H có 01 người con chung tên Huỳnh Thị Ng Nh , sinh ngày 17/5/2018. Khi ly hôn ông Ng đồng ý giao cháu Như cho bà H nuôi dưỡng, ông Ng không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Ông Ng cũng thống nhất có tài sản chung là 01 xe mô tô nhãn hiện Wave, biển kiểm soát 65F1-540.37 do ông Huỳnh Trung Ng đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, hiện tại bà H đang quản lý sử dụng. Khi ly hôn, ông Ng đồng ý giao xe cho bà H được sang tên sử dụng, xem như giữa ông và bà H không còn tài sản chung nào khác.

- Về nợ chung: Không có.

Ngoài ra ông Ng có yêu cầu xét xử vắng mặt do bận đi làm ăn xa.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn bà H vẫn giữ nguyên ý kiến, kiên quyết xin được ly hôn với bị đơn ông Ng.

Về tài sản chung: Bà H cũng thống nhất ngoài xe mô tô biển kiểm soát 65F1-540.37 do ông Huỳnh Trung Ng đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe thì không còn tài sản chung nào khác. Qua ý kiến của ông Ng đồng ý giao xe cho bà H đứng tên quản lý sử dụng thì bà H cũng thống nhất.

Bị đơn ông Ng vắng mặt có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đại viện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do có cơ sở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu, chứng cứ coù trong hoà sô vuï aùn đã ñöôïc thaåm tra taïi phieân toøa vaø caên cöù vaøo keát quả tranh luaän taïi phieân toøa. Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän ñònh:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Huỳnh Trung Ng là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống xãy ra mâu thuẫn, bà H khởi kiện xin ly hôn với ông Ng. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Ng đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Ng đều vắng mặt nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt và có yêu cầu được xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Ng là phù hợp theo điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu ly hôn: Nhận thấy hôn nhân giữa ông bà thông qua quen biết, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn đúng theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp, tuy nhiên trong quá trình chung sống lại xãy ra mâu thuẫn. Căn cứ trình bày của nguyên đơn và bị đơn cung cấp cho Tòa án đã thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ cH là bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xãy ra cải vã làm cuộc sống không hạnh phúc, tuy nhiên lại không có biện pháp hàn gắn tình cảm và hiện tại đã ly thân. Nay qua yêu cầu ly hôn của bà H thì ông Ng cũng đồng ý ly hôn. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa ông, bà đã trở nên trầm trọng, nếu tiếp tục cuộc hôn nhân này cũng không đạt được mục đích cuối cùng là mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Tại phiên tòa, bà H vẫn cương quyết xin ly hôn. Vì vậy, nghĩ nên chấp nhận cho bà H ly hôn với ông Ng là phù hợp.

[4] Về con chung: Bà H và ông Ng có 01 người con chung tên Huỳnh Thị Ng Nh , sinh ngày 17/5/2018. Quá trình giải quyết vụ án, ông, bà đều thống nhất giao cháu Như cho bà H nuôi dưỡng, ông Ng không phả cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện cháu Như còn nhỏ tuổi, đang được bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Ng lại đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt ở nhà, do đó việc giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng như yêu cầu là phù hợp, nhằm ổn định cuộc sống cho con chung.

Ngoài ra cũng dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Ng để đảm bảo cho con chung nhận đầy đủ tình cảm từ cha mẹ như những trẻ khác.

Xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha, mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Công nhận bà H và ông Ng đã tự thỏa thuận giải quyết tài sản chung.

Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết trong vụ án khác.

[5] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Xét ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; 28; 35; 39; 147; 207; 227; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56; 81; 82; 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết Số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, qản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim H và ông Huỳnh Trung Ng.

Về con chung: Công nhận ông, bà có có 01 người con chung tên Huỳnh Thị Ng Nh , sinh ngày 17/5/2018. Giao cháu Nhi cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông Ng không phải cấp dưỡng nuôi con .

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Ng không ai được cản trở. Sau này, bà H, ông Ng có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vì lợi ích của con.

Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.

Nếu sau này phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết thành một vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004403 ngày 19 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ. Công nhận bà H đã nộp xong án phí.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ