vanban.org

Bản án 55/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Y.

Về hôn nhân: Xử cho bà Lâm Thị Y được ly hôn với ông Lý P. Về con chung: Giáo cháu Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017 cho ông Lý P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nh thành niên, bà Lâm Thị Y có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lý Minh Nh mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Mộ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Y.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 8 - 2022
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Nhì.

Ông Trần Huy Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 155/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lâm Thị Y; Sinh năm: 2000. Địa chỉ: Ấp Tr, xã V, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Lý P; Sinh năm: 1993. Địa chỉ: Ấp Tr, xã V, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 3 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lâm Thị Y trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Y và ông Lý P tự nguyện đến với nhau vào năm 2016, được sự đồng ý của cha mẹ đôi bên và có tổ chức đám cưới cho ông bà, nhưng đến ngày 29/10/2018 ông bà mới đến Uỷ ban nhân dân xã V để đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã V, huyện Tr, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96 ngày 29/10/2018. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường hay cãi nhau, ông P bỏ bê công việc và hay dùng bạo lực đối với bà Y. Bà Y và ông P sống ly thân từ tháng 09/2019 cho đến nay. Nay bà Y xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông P không còn, nên bà Y yêu cầu ly hôn với ông P; Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Y và ông P có 01 người con chung tên là Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017. Hiện cháu Nh đang sống với ông P. Bà Y yêu cầu giao con chung là Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017 cho ông Lý P nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà Y sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà Y và ông P không có tài sản chung và không có nợ chung, nên bà Y không có yêu cầu gì.

Bị đơn là ông Lý P đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông P không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông P.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017 cho ông P nuôi dưỡng đến khi thành niên, ghi nhận sự tự nguyện của bà Y về việc cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Lý P là bị đơn trong vụ án, ông P đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông P.

Đối với nguyên đơn bà Lâm Thị Y đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Y.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lâm Thị Y và ông Lý P là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ năm 2019, hai bên đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Y yêu cầu được ly hôn với ông P là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Y. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Y được ly hôn với ông P.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Y và ông P có 01 người con chung tên là Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017. Hiện nay, cháu Nh đang sống chung với ông P. Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 3 năm 2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Y yêu cầu giao con chung là Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017 cho ông Lý P nuôi dưỡng đến khi thành niên, bà Y sẽ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng. Đối với bị đơn là ông Lý P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về nội dung yêu cầu của bà Y, nhưng ông P không có văn bản trả lời về nội dung yêu cầu của bà Y. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi bà Y và ông P sống ly thân cho đến nay thì cháu Nh sống chung với ông P. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017cho ông P nuôi dưỡng đến khi thành niên, ông P không yêu cầu bà Y phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà Y tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Vì vậy, ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của bà Y. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho bà Y, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Y phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng và án phí đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đổng, tổng cộng bà Y phải chịu án phí là 600.000 đồng; Ông P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Y.

1. Về hôn nhân: Xử cho bà Lâm Thị Y được ly hôn với ông Lý P.

2. Về con chung: Giáo cháu Lý Minh Nh, sinh ngày 21/7/2017 cho ông Lý P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nh thành niên, bà Lâm Thị Y có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lý Minh Nh mỗi tháng là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), do ông Lý P đại diện nhận tiền cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (19/8/2022 DL) cho đến khi cháu Nh thành niên, phương thức cấp dưỡng là cấp dưỡng hàng tháng. Địa điểm giao nhận tiền cấp dưỡng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho bà Y, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tổng cộng bà Y phải chịu án phí là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), nhưng bà Y được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004001 ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Y còn phải nộp thêm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); Ông Lý P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Lâm Thị Y và ông Lý P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ