vanban.org

Bản án 55/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LV
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HNGĐ-ST.
Ngày: 28-6-2022.
“V/v Ly hôn; Tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn giữa chị Nguyễn Thị
Kim Y và anh Nguyễn Tấn D”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LV, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vạn Thế.

2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Pha - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LV, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở của Tòa án nhân dân huyện LV xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 01 năm 2022, về “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2022, và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1996; HKTT: Số 121B, ấp B, xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Ấp 2, xã C, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Chị Y có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn D, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 121B, ấp B, xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Anh D vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Y trình bày: Chị Y và anh D cưới nhau, đến ngày 07/7/2015 chị Y và anh D có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 71, ngày 07/7/015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không phù hợp, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Và vợ chồng chị Y, anh D không còn chung sống với nhau từ đó đến nay. Hiện không còn tình cảm với anh D nên chị Y yêu cầu ly hôn với anh D.

Quá trình sống chung, chị Y và anh D có 01 con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày 22/3/2015. Từ khi vợ chồng chị Y và anh D không còn chung sống với nhau thì cháu N sống cùng và do mẹ là chị Y trực tiếp nuôi dưỡng; Chị Y không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị Y yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Tấn D; Về con chung, chị Y yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D có nghĩa vụ đóng góp (cấp dưỡng) nuôi con chung là cháu N cùng chị Y; Về tài sản chung, nợ chung, chị Y không yêu cầu giải quyết. Chị Y khẳng định anh D biết rõ việc chị Y yêu cầu và được Tòa án thụ lý vụ án ly hôn giữa chị và anh D, nhưng anh D cố tình tránh mặt, anh D có nói với chị Y đồng ý ly hôn nhưng không muốn đến Tòa án giải quyết và giao phó mọi việc cho chị Y.

Bị đơn là anh Nguyễn Tấn D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, bản photo đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn. Nhưng bị đơn không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án. Đồng thời anh D cũng không có mặt tại Tòa án khi được Tòa án triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án, cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do, không tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Kiểm sát viên cho rằng, mâu thuẫn vợ chồng chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Nguyễn Tấn D trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Y là có cơ sở. Vợ chồng chị Y, anh D có 01 (một) con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày 22/3/2015, con chung hiện sống với chị Y. Chị Y có công việc, thu nhập ổn định và cháu N có nguyện vọng sống với mẹ. Nhận thấy để cháu N có điều kiện phát triển tốt, nên giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Kim Y được ly hôn với anh Nguyễn Tấn D; Về con chung: Chị Y được trực tiếp nuôi con chung là cháu N, do chị Y không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Việc chị Nguyễn Thị Kim Y xin ly hôn anh Nguyễn Tấn D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị Y và anh D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Do anh D có địa chỉ thường trú tại số 121B, ấp B, xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Nên Tòa án nhân dân huyện LV thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với anh D là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh D vắng mặt không rõ lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh D là phù hợp với quy định của khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân:

Việc chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Nguyễn Tấn D đăng ký kết hôn vào ngày 07/7/015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp có Giấy chứng nhận kết hôn số 71 là chứng cứ chứng minh. Vì thế, có đủ cơ sở để xác định việc đăng ký kết hôn của chị Y và anh D đã đảm bảo các điều kiện kết hôn và tuân thủ quy định của pháp luạt về hôn nhân và gia đình tại thời điểm đăng ký kết hôn, nên được Tòa án công nhận là vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Tuy nhiên, sau khi cưới chị Y và anh D sống chung hạnh phúc đến khoảng tháng 8/2021 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn dẫn đến việc vợ chồng không còn sống chung với nhau từ đó, nhưng đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vả. Nay chị Y yêu cầu ly hôn với anh D, chị Y đã thực hiện quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình.

Khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh D tại địa chỉ mà chị Y đã cung cấp trong đơn khởi kiện. Anh D cũng được Tòa án thông báo toàn bộ nội dung yêu cầu của chị Y trong vụ án, cũng như thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 30/3/2022 của Tòa án đối với vụ án. Nhưng anh D không cung cấp ý kiến phản bác, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì và cũng không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, mọi hậu quả pháp lý từ việc vắng mặt và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình, anh D phải tự chịu. Hành động của anh D đã cho thấy anh D không quan tâm đến cuộc hôn nhân này và cũng không có thiện chí đoàn tụ để tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình cùng chị Y. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận định chị Y và anh D đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Từ những nhận định nêu trên đã đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Y để giải quyết cho vợ chồng chị Y và anh D ly hôn là phù hợp với quy tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị Y và anh D có 01 con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày 22/3/2015. Hiện cháu N đang sống cùng và do mẹ là chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, cháu N phát triển bình thường về thể lực, trí lực so với những đứa trẻ cùng độ tuổi. Sự việc này do chị Y trình bày nhưng anh D đã không đưa ra ý kiến phản bác trong suốt quá trình giải quyết vụ án cho thấy đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, đủ căn cứ để xác định cháu N là con chung của chị Y, anh D, hiện cháu N đang sống cùng và do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Đến nay, cháu N vẫn phát triển bình thường cho thấy chị Y đã đảm bảo được điều kiện để được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Y về nuôi con chung, cụ thể giao con chung là cháu N cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định và với nguyện vọng của cháu N thể hiện tại Tờ tường trình của cháu N đề ngày 11/11/2021.

Do chị Y không yêu cầu, anh D không có ý kiến về việc đóng góp (cấp dưỡng) nuôi cháu N cùng chị Y, nên Hội đồng xét xử không xem xét về chi phí đóng góp (cấp dưỡng) nuôi con chung của chị Y và anh D.

Sau khi ly hôn, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 81; Anh D có nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn được quy định tại Điều 82; Chị Y là người trực tiếp nuôi con sẽ có các nghĩa vụ, quyền của người trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về quyền và căn cứ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Do chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Nguyễn Tấn D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Do chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Nguyễn Tấn D không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo thực hiện theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 91, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim Y và anh Nguyễn Tấn D.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày 22/3/2015 cho chị Nguyễn Thị Kim Y tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng (Hiện cháu N đang sống chung và do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng). Anh Nguyễn Tấn D không phải đóng góp (cấp dưỡng) nuôi con chung là cháu N cùng chị Y.

2.2. Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Kim Y cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Tấn D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Anh Nguyễn Tấn D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Nguyễn Tấn D.

3. Về chia tài sản: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008511 ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện LV (Chị Y đã nộp đủ án phí).

Chị Nguyễn Thị Kim Y có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Tấn D có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho anh D.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân

Cỡ chữ