- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 55/2022/HNGĐ-ST Ngày: 12/4/2022 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Bé;
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Yên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 42/2022/TLST-
HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly
hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
75/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022, Quyết định hoãn phiên
tòa số 80/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp Đ, xã M,
huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: số nhà 307, tổ 12, ấp 4, xã P, huyện C,
tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1982; địa chỉ: ấp Đ, xã M, huyện
C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày, do mai mối, bà T và ông K kết hôn
vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An
Giang vào ngày 25/11/2011. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 07/12/2011. Hiện tại, con chung đang được bà T nuôi dưỡng.
Trong thời gian chung sống hạnh phúc được 04 năm thì bà T, ông K xảy
ra mâu thuẫn, nguyên nhân là ông K hay gây chuyện vô cớ, ông K uống rượu mỗi ngày, ông K gây chuyện chửi, đánh bà T, không lo làm ăn, cha mẹ hai bên có giàn xếp nhưng không được. Vợ chồng không còn sống chung khoảng 01 năm nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông
K; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 07/12/2011 không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu
cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 214, quyển số 02/2011, ngày 25/11/2011 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị T (bản chính); giấy khai sinh số 433, ngày 13/12/2011 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Thị Quỳnh N (bản sao).
- Bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn
vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà T và ông K kết hôn, có
đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung khoảng 01 năm nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà T yêu cầu ly hôn với ông K. Bà
T, ông K không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn hạnh phúc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông K theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu Như cho bà
T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con, do bà T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi
con nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật
Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông K; bà T
được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày
07/12/2011; ông K không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn K. Đồng
thời, ông K cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn
nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn K đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng
vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định
tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân:
Bà T và ông K tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của
pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K là hợp pháp, được pháp luật
thừa nhận và bảo vệ.
Bà T xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu
thuẫn, cãi vã do bất đồng quan điểm, lối sống không phù hợp và không còn sống
chung khoảng 01 năm nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà T và ông
K thường xuyên cãi vã và không còn sống chung khoảng 01 năm nay. Vợ chồng
không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ
Thông báo thụ lý vụ án cho ông K nhưng ông K không có ý kiến phản đối yêu
cầu ly hôn của bà T. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà T, ông K là
trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt
được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông K
theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà T xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng
có sinh 01 con chung tên Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh ngày 07/12/2011.
Xét thấy, con chung đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn
định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu Như phát triển tốt về thể chất, tinh thần, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi nhận ý kiến của cháu Như, cháu như có nguyện vọng muốn sống với mẹ (bà T) sau khi cha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử giao cháu Như cho bà T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng
nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không yêu cầu Tòa án
xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ
thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm
2014; các Đi u 144, 147, 273 Bộ lu t T tụng dân s năm 2015; đi m a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
Giấy chứng nhận kết hôn số 214, quyển số 02/2011 ngày 25/11/2011 do
Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị T không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị
Quỳnh N, sinh ngày 07/12/2011. Ông Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Bà Nguyễn Thị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản
trở ông Nguyễn Văn K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có
thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm
nghìn) đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010032 do Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 12 tháng 01
năm 2022; bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí.
Ông Nguyễn Văn K không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị T có quyền
kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn K được tính là 15 ngày kể
từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Đi u 2
Lu t Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành
án dân s có quy n thoả thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, t
nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u 6,
7 và 9 Lu t thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy
định tại Đi u 30 Lu t thi hành án dân s .
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - UBND xã M, huyện C, tỉnh An Giang (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Thúy Nguyễn Thị Diễm Thúy |