- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty G - D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Võ Thị
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 55/2022/DS-ST Ngày: 08-8 - 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Bằng;
- Ông Nguyễn Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng – Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố X, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X tham gia phiên toà: Bà
Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố X xét xử sơ
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2022/TLST-DS ngày 01 tháng 6 năm
2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số: 100/2022/QĐXXST-DS ngày 07/7/2022 và Quyết định hoãn
phiên tòa số 73/2022/QĐST - DS ngày 21 tháng 7 năm 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH mua bán nợ G; trụ sở Tầng 1, tầng 2, Tòa
nhà PVL LT Tower, số 05 đường D1, phường LT, thành phố TĐ, thành phố H;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Hữu Y, sinh
năm 1996, địa chỉ: cầu Kênh 1, ấp M, xã V, thành phố X, tỉnh An Giang (theo
văn bản ủy quyền số 04/UQTA-GLX.22 ngày 19/5/2022 của Công ty TNHH mua
bán nợ G và văn bản ủy quyền số 04/UQTT-DLO.2022 ngày 20/5/2022 của
Công ty Luật TNHH MTV ĐL), có mặt.
- Bị đơn: Bà Võ Thị D, sinh năm 1963, địa chỉ: tổ 35, khóm VP, phường
CPA, thành phố X, tỉnh An Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn Công ty TNHH mua bán nợ G là ông Trần Hữu Y trình bày:
Ngày 09/01/2017, bà Võ Thị D có ký hợp đồng tín dụng số 20170110-
0000729 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM (viết tắt là Công ty tài chính) vay số tiền 26.375.000 đồng, hình thức vay tín chấp, lãi suất 5%/tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận bà D có trách nhiệm thanh toán số tiền 45.855.296 đồng gồm gốc và lãi; trả liên tiếp trong vòng 24 tháng (23 tháng đầu trả mỗi tháng 1.912.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.879.296 đồng), thời gian bắt đầu trả từ ngày 11/02/2017.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, bà D đã thanh toán cho Công ty tài chính
được số tiền 4.874.000 đồng, kể từ ngày 10/4/2017 đến nay bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần.
Ngày 28/12/2018, khoản nợ của bà Võ Thị D đã được Công ty tài chính
TNHH Ngân hàng SBM chuyển nhượng cho Công ty TNHH mua bán nợ G theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0006. Nay Công ty TNHH mua bán nợ G khởi kiện, yêu cầu bà D trả số tiền còn nợ là 40.981.296 đồng, gồm nợ gốc 25.158.392 đồng, lãi 15.822.904 đồng.
Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự không thỏa thuận được, bà D xin
trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi dứt nợ vay, nguyên đơn không đồng ý. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn Võ Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử của Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về việc giải quyết vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án thấy rằng, thỏa thuận vay nợ giữa Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM với bà Võ Thị D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật. Đồng thời, xét thấy việc Công ty tài chính TNHH Ngân hàng SBM có thỏa thuận chuyển giao khoản nợ của bà D sang Công ty TNHH mua bán nợ G là phù hợp quy định pháp luật, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà D. Do trong thời gian thực hiện hợp đồng phía bên vay – bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên cho vay của Công ty TNHH mua bán nợ G nên việc Công ty TNHH mua
bán nợ G khởi kiện yêu cầu bà D trả một lần số tiền còn nợ là có căn cứ chấp
nhận.
Đối với việc bà D xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt
nợ, không được phía Công ty TNHH mua bán nợ G chấp nhận nên không có cở
sở xem xét.
Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều
365, 463, 466, 468 BLDS 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn: Buộc bà Võ Thị D có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH mua bán nợ G
40.981.296 đồng.
Từ phân tích trên, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài
sản với bị đơn là bà Võ Thị D có nơi cư trú tại thành phố X, tỉnh An Giang nên
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố X theo quy định tại
khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227,
Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về xác lập hợp đồng vay tài sản:
Xét văn bản đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20170110-
0000729 ngày 09/01/2017 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức
và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật. Do đó, làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.
Về vốn và lãi vay:
Căn cứ Văn bản đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20170110-
0000729; Bảng kế hoạch trả nợ và Lịch sử thanh toán thì Công ty tài chính
TNHH Ngân hàng SBM cho bà D vay số tiền vay số tiền 26.375.000 đồng; lãi
suất 5%/tháng; hình thức vay tín chấp, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Theo
thỏa thuận bà D có trách nhiệm thanh toán số tiền 45.855.296 đồng gồm gốc và
lãi, trả liên tục trong vòng 24 tháng, kể từ ngày 11/02/2017.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, bà D đã thanh toán cho Công ty tài chính được số tiền 4.874.000 đồng, kể từ ngày 10/4/2017 đến nay bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận, mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần.
Ngày 28/12/2018, khoản nợ của bà Võ Thị D đã được Công ty tài chính
TNHH Ngân hàng SBM chuyển nhượng cho Công ty TNHH mua bán nợ G theo hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0006. Việc chuyển giao quyền yêu cầu này hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 365 Bộ luật Dân sự 2015. Vì thế cho nên, việc Công ty TNHH mua bán nợ G khởi kiện, yêu cầu bà D trả số tiền còn nợ là 40.981.296 đồng, gồm nợ gốc 25.158.392 đồng, lãi 15.822.904 đồng là có căn cứ chấp nhận, theo các quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đối với ý kiến của bà D xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng cho
Công ty TNHH mua bán nợ G đến khi dứt nợ vay nhưng không được nguyên đơn đồng ý nên không có căn cứ xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm
Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.025.000 đồng.
Do lỗi vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
có giá ngạch là 2.049.065 đồng.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 365, 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015,
Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Võ Thị
D trả cho Công ty TNHH mua bán nợ G số tiền 40.981.296 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân
sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty TNHH mua bán nợ G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm,
hoàn trả cho Công ty TNHH mua bán nợ G số tiền 1.025.000 đồng tạm ứng án
phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0002181 ngày 31 tháng 5 năm 2022
của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.
Bà Võ Thị D phải chịu 2.049.065 (hai triệu, không trăm bốn mươi chín
nghìn, không trăm sáu mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo
để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bà Võ Thị D là 15 ngày, kể từ ngày bản án
được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND TP. X (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục Thi hành án DS TPCĐ (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ngọc Hà |