- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trai phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Cao Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N B TỈNH N B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55 /2021/HS-ST Ngày: 14-05-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N B, TỈNH N B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Lê Văn Tú
+ Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: Bà Tống Thị Huê - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N B, tỉnh N B.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N B tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2021/TLST- HS ngày 06 tháng 4 năm 2021,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2021/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 04 năm 2021 đối với các bị cáo:
1.Họ và tên: Trần Thanh Tr (tên gọi khác: không) - sinh năm 1984
Nơi ĐKHKTT: số 99, tổ 18, phường Ngọc Hà, quận B Đ, thành phố H N; Nơi ở: đường 2, phố Bích Sơn, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa : 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông : Trần Văn Nh- đã mất; Con bà: Trần Thị Y- sinh năm 1954; bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Chồng: Hồ Mạnh Hà - sinh năm 1981 (đã ly hôn); Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh ngày 11/8/2017.
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân:
- Bản án số 101/2000/HS-ST ngày 23/11/2000 Tòa án nhân dân tỉnh N B xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 15/6/2003.
- Bản án số 12/2004/HSST ngày 22/11/2004 Tòa án nhân dân thị xã N B xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 21/12/2013.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/10/2020 đến ngày 30/10/2020 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay ( có mặt tại phiên tòa) .
2. Họ và tên : Cao Văn T (Tên gọi khác: không) - sinh năm 1969.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: số nhà 09 ngõ 548 đường Nguyễn Công Trứ, phố Thượng Lân, phường N S, thành phố N B, tỉnh N B. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Cao Hữu T- đã mất; con bà: Nguyễn Thị V- đã mất. Bị cáo là con thứ 3/4 trong gia đình. Vợ, con: không có.
Tiền án:
- Bản án số 136/HS-ST ngày 16/12/1988 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”. Ra trại ngày 04/4/1991.
- Bản án số 09/HSST ngày 27/01/1992 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”. Ra trại ngày 21/11/1998.
- Bản án số 85/HSST ngày 22/9/2000 Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 năm tù về tội “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc Cao Văn Tài phải chấp hành chung cho cả hai tội là 14 năm tù. Ra trại ngày 26/9/2011.
- Bản án số 91/2013/HSST ngày 21/6/2013 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 25/11/2019.
Nhân thân:
- Ngày 28/4/2012 Công an huyện Kim Sơn, tỉnh N B xử phạt 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 10/8/2012 Ủy ban nhân dân thành phố N B ra Quyết định số 2917 áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2020 đến ngày 30/10/2020 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N B cho đến nay ( có mặt tại phiên tòa).
1. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan :
- anh Điền Văn Tr, sinh năm 1974; địa chỉ : thôn Vĩnh Tiến, xã Ninh Phúc, thành phố N B, tỉnh N B ( vắng mặt );
- anh Trịnh Văn Ngh, sinh năm 1980; địa chỉ : thôn Đông Hạ, xã N P, thành phố N B, tỉnh N B. (vắng mặt );
- chị Cao Thị Hồng V, sinh năm 1963; địa chỉ: phố Vạn Hưng, phường Bích Đào, thành phố N B, tỉnh N B ( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh Tr và Cao Văn T có quan hệ quen biết với nhau và đều là người nghiện ma túy. Khoảng 8 giờ ngày 26/10/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tài đi xe ôm sang khu vực bờ đê sông Đáy thuộc thôn Dinh Tần, xã Yên Bằng, huyện Ý Y, tỉnh N Đ mua của một người thanh niên không quen biết 300.000 đồng được một túi ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Tài mang về nhà ở số nhà 09, ngõ 548, đường Nguyễn Công Trứ, phố Thượng Lân, phường N S, thành phố N B cất giấu để sử dụng. Khoảng hơn 9 giờ cùng ngày thì Trần Thanh Tr đi cùng Nguyễn Mạnh T và cháu Hồ Văn D sinh năm 2017 (là con trai của Trần Thanh Trang) đến nhà T chơi. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Tài lấy gói ma túy vừa mua được ra cho hết vào cóong thủy tinh sử dụng nhưng không sử dụng hết, số ma túy còn lại T vẫn để trong cóong để sau này sử dụng tiếp. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này Trịnh Văn Ngh sinh năm 1980 trú tại thôn Đ H, xã Ph, thành phố N B đến nhà Điền Văn Tr sinh năm 1974 trú tại thôn Vĩnh T, xã N Ph, thành phố Ninh Bình chơi. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trọng rủ Nghiệp góp tiền mua ma túy về sử dụng, Ngh đồng ý rồi đưa cho Tr 200.000 đồng. Do biết Trần Thanh Tr có bán ma túy nên Tr sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung lắp sim số 0339.306.221 gọi đến số điện thoại 0838.366.405 của Trần Thanh Tr hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng. Tr đồng ý. Trọng hỏi Tr đang ở đâu để đến mua ma túy nhưng Tr nói Tr cứ ở nhà, Tr sẽ mang ma túy đến nhà Tr. Sau khi nghe điện thoại của Tr thì Tr nói với Cao Văn T “Cậu đưa cháu cái bốn để cháu để cho khách” ý bảo Tài đưa ma túy với giá 400.000 đồng cho Trang để Trang mang đi bán. T đi vào bếp lấy 01 túi nilon mầu trắng, bên ngoài có dính băng dính hai mặt mầu trắng kích thước khoảng (1,5 x 1,5) cm, bên trong chứa chất tinh thể mầu trắng đưa cho Tr. Tr cầm túi ma túy giấu vào trong túi áo đang mặc rồi bảo Nguyễn Mạnh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead BKS 90B2-360.79 chở Tr và cháu Hồ Văn D đến nhà Điền Văn Tr. Đến nơi T và cháu D đứng bên ngoài đợi, còn Tr đi vào nhà Trọng thì thấy Trịnh Văn Ngh đang ngồi trong phòng khách. Tr gọi điện thoại cho Tr thì Tr đi bộ từ ngoài đường vào trong nhà. Do đã trao đổi mua bán ma túy từ trước nên Tr lấy túi ma túy ra đưa cho Tr, Tr cầm túi ma túy rồi đưa cho Trang 400.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho Tr xong, T chở Tr đi chợ sau đó ba người về nhà bà Trần Thị Y sinh năm 1954, trú tại phố Bích Sơn, phường Bích Đào, thành phố N B để gửi cháu D ở đó rồi T và Tr đi xe mô tô quay lại nhà Cao Văn T để ăn cơm. Còn Điền Văn Tr và Trịnh Văn Ng sau khi mua được ma túy đã cùng nhau sử dụng hết.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày Điền Văn Tr gọi điện cho Trần Thanh Tr hỏi mua 01 túi ma túy. Lúc này Nguyễn Mạnh T đang cầm điện thoại của Trang nên T nghe máy và đồng ý bán ma túy cho Trọng. Tuấn hỏi Trọng đang ở đâu thì Trọng nói đang ở khu vực đường Phạm Thận Duật, phường N S, sau đó T điều khiển xe mô tô BKS 90B2-360.79 đi đến khu vực đường Phạm Thận Duật thuộc phố Trung Sơn, phường B Đ, thành phố N B để gặp Điền Văn Tr nhưng hai người chưa kịp trao đổi mua bán ma túy với nhau thì bị Tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N B phát hiện bắt quả tang. Điền Văn Tr đã khai nhận ngoài lần mua bán ma túy với Nguyễn Mạnh T bị bắt quả tang thì vào sáng ngày 26/10/2020 Trọng cùng với Trịnh Văn Ngh đã góp tiền mua của Trần Thanh Trang 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng. Căn cứ lời khai của Điền Văn Trọng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N B tiến hành xác minh, triệu tập Trần Thanh Tr, phát hiện Trang đang có mặt ở nhà Cao Văn T. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N B phối hợp với Công an phường N S tiến hành kiểm tra nhân hộ khẩu nhà Cao Văn T, phát hiện trên mặt bàn uống nước kê ở phòng khách nhà T có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 bình nhựa mầu trắng, nắp bình mầu xanh, trên nắp có cắm 01 cóong thủy tinh bên trong bám dính chất tinh thể mầu trắng ngà và 01 ống hút nhựa. Cao Văn T khai nhận đây là ma túy của T mua về chưa sử dụng hết. Tổ công tác đã niêm phong chiếc cóong vào phong bì thư theo quy định của pháp luật. Tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở của Cao Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình thu giữ trong người Cao Văn T số tiền 5.150.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung. Thu trong phòng bếp 01 cân điện tử mini mầu đen, 04 đoạn ống thủy tinh, 04 đoạn ống hút bằng nhựa. Quá trình khám xét Trần Thanh Tr tự giác lấy từ trong túi áo đang mặc số tiền 300.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masster mầu đen lắp sim số 0838.366.405 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N B đã triệu tập anh Trịnh Văn Ngh. Anh Nghiệp đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình 01 túi nilon mầu trắng, kích thước khoảng (1,5 x1,5) cm, bên trong bám dính chất tinh thể mầu trắng và khai nhận đây là vỏ túi nilon đựng ma túy do anh Trọng và anh Nghiệp góp tiền mua của Trần Thanh Trang vào sáng ngày 26/10/2020. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã niêm phong vỏ túi nilon nói trên vào phong bì thư theo quy định pháp luật.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể mầu trắng ngà thu giữ của Cao Văn Tài: dùng bật lửa ga hơ cóong thủy tinh để lấy chất tinh thể ra thì chất tinh thể mầu trắng ngà bên trong đổi mầu thành mầu nâu, chất tinh thể mầu nâu có khối lượng là 0,08 gam, ký hiệu M1. Gửi mẫu M1 và 01 túi nilon mầu trắng bên trong bám dính chất tinh thể mầu trắng được niêm phong trong phong bì thư thu giữ của Trịnh Văn Nghiệp để xác định chất tinh thể mầu nâu và chất tinh thể mầu trắng bám dính trong túi nilon mầu trắng có phải là ma túy không, loại ma túy gì, có khối lượng bao nhiêu?
Kết luận giám định số 296/KLGĐ-PC09-MT ngày 30/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể mầu trắng bám dính trong túi nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng chất ma túy bám dính ít, không xác định được khối lượng. Mẫu chất dạng tinh thể mầu nâu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0822 gam là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ. Như vậy khối lượng Methamphetamine thu giữ của Cao Văn Tài là 0,0822 gam. Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định chất dạng tinh thể còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,0205 gam, 01 vỏ túi nilon mầu trắng và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong phong bì theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 05/04/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình đã truy tố Trần Thanh Trang về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, Cao Văn Tài về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với Trần Thanh Trang; áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với Cao Văn Tài.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Thanh Trang đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Cao Văn Tài phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt: Trần Thanh Trang từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2020.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Cao Văn Tài từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2020.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với số vật chứng nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng. Sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thanh Trang và buộc bị cáo phải nộp số tiền 100.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh Tr khai nhận: khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/10/2020 tại nhà của Điền Văn Tr ở thôn Vĩnh Tiến, xã Ninh Phúc, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Trần Thanh Tr có hành vi bán trái phép cho Điền Văn Trọng 01 túi ma túy loại Methamphetamine lấy 400.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ.
Đối với bị cáo Cao Văn T là người có hai tiền án về các tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/10/2020 tại nhà Cao Văn T ở số nhà 09, ngõ 548 đường Nguyễn Công Trứ phố Thượng Lân phường Ninh Sơn thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình Cao Văn T cất giấu 0,0822 gam Methamphetamine, sử dụng bị phát hiện bắt giữ.
Lời khai của các bị cáo phù hợp khách quan với biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản về việc mở niêm phong, cân xác định khối lượng, niêm phong lại; biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định; bản kết luận giám định và lời khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do vậy khẳng định hành vi của bị cáo Trần Thanh Tr bán trái phép cho Điền Văn Tr 01 túi ma túy đá lấy 400.000 đồng là phạm tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Cao Văn T mua ma túy về cất giữ trong nhà để sử dụng cho bản thân, tuy khối lượng ma túy thu giữ là 0.0822 gam Methamphetamỉn là chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm nhưng bị cáo đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 91/2013/HSST ngày 21/6/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, bị cáo chưa được xóa án tích của bản án này mà còn vi phạm, do vậy tiền án năm 2013 được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm. Ngoài ra bị cáo còn có bản án số 136/HS-ST ngày 16/12/1988 về tội “ Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”; bản án số 09/HSST ngày 27/01/1992 về tội “ cướp tài sản công dân” ; bản án số 85/HSST ngày 22/9/2000 xử phạt tội “ mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” các bản án này bị cáo đều chưa được xóa án là tái phạm mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo cho thấy: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy là một trong những khách thể quan trọng đang được Luật hình sự bảo vệ.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi bản thân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được việc làm của mình, các bị cáo cũng là những người đã nhiều lần bị pháp luật xử phạt về các hành vi liên quan đến ma túy, lẽ ra phải lấy đó làm bài học tu tỉnh bản thân, tránh xa các hành vi tương tự. Tuy nhiên, không những không từ bỏ mà các bị cáo lại lấy đó làm nguồn sống, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình trị an, xã hội; làm băng hoại giá trị đạo đức, lối sống của cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, các bị cáo đều là những người có nhân thân rất xấu; Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian để các bị cáo tự cải tạo mình trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Hai bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị xét xử về hai tội danh khác nhau nên đánh giá tính chất mức độ của hành vi phạm tội của từng bị cáo theo tội danh mà các bị cáo đã bị truy tố. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Thanh Tr không có tình tiết tăng nặng; bị cáo Cao Văn T do đã áp dụng các tiền án là tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo Trần Thanh Tr phạm tội vì mục đích vụ lợi nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền . Bị cáo Cao Văn T tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo Trần Thanh Tr bán 01 gói ma túy cho Điền Văn Tr được 400.000 đồng, bị cáo đã tiêu 100.000 đồng trong số tiền bán ma túy, do vậy cần truy thu số tiền này để sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số vật chứng là mẫu giám định còn lại và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong, đã được niêm phong lại theo đúng quy định của pháp luật trong 03 phong bì niêm phong; 04 đoạn ống thủy tinh; 05 đoạn ống hút nhựa; 01 bình nhựa; 01 cân điện tử tiểu ly đều là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước các vật chứng là : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Master và số tiền 300.000 đồng.
Các vấn đề khác:
Đối với số tiền 5.150.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung thu giữ của Cao Văn T. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Cao Thị Hồng V sinh năm 1963 trú tại phố Vạn Hưng, phường Bích Đào, thành phố N B (là chị gái của Tài) đưa cho T mượn, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N B đã trả lại tiền và tài sản nói trên cho chị V theo quy định pháp luật.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Trần Thanh Tr không liên quan đến hành vi phạm tội. Trần Thanh Tr đã ủy quyền cho mẹ là bà Trần Thị Y sinh năm 1954, trú tại phố Bích Sơn, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình được nhận lại. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N B đã bàn giao cho bà Y theo quy định pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy Trần Thanh Tr bán cho Điền Văn Tr. Trần Thanh Tr khai nhận gói ma túy này là của Cao Văn T đưa cho Trang để Trang mang đi bán cho Tr. Nhưng Cao Văn T không thừa nhận việc này. Ngoài lời khai của Trần Thanh Tr ra thì không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã tách tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về nguồn gốc ma túy của Cao Văn T, Tài khai nhận mua của một người nam thanh niên không quen biết ở thôn Dinh Tần, xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.
Đối với Nguyễn Mạnh T là người đã chở Trần Thanh Tr đến nhà Điền Văn Tr vào sáng ngày 26/10/2020, Tuấn không biết việc Trang đến nhà Trọng để bán ma túy nên không vi phạm. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy giữa Nguyễn Mạnh Tuấn và Điền Văn Trọng vào khoảng 15 giờ ngày 26/10/2020 được giải quyết bằng một vụ án khác.
Đối với Điền Văn Trọng và Trịnh Văn Nghiệp là người đã mua ma túy của Trần Thanh Trang để sử dụng, do lượng chất ma túy bám dính trong túi nilon thu giữ của Trọng và Nghiệp ít, không xác định được khối lượng nên không có căn cứ để xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Công an thành phố Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo đối với Trọng và Nghiệp về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về án phí : Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thanh Tr
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Văn T
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Cao Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Trần Thanh Tr 27 (hai bảy ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2020. Phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng ( năm triệu) để sung quỹ Nhà nước.
Xử phạt Cao Văn T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- 03 phong bì thư niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
- 04 đoạn ống thủy tinh
- 05 đoạn ống hút nhựa.
- 01 bình nhựa màu xanh.
- 01 cân điện tử tiểu ly.
( Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 16/04/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng ( hiện gửi tại tài khoản Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình theo ủy nhiệm chi ngày 14/4/2021) và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Master (Chi tiết điện thoại theo biên bản giao, nhận ngày 16/04/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.
- Truy thu số tiền 100.000 đồng ( một trăm nghìn đồng) của bị cáo Trần Thanh Trang để sung quỹ Nhà nước.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnhNB; - VKSND TP. N B; - CA TP Ninh Bình, Bị cáo; - THADS TP. NB; - Sở tư pháp tỉnh N B; - UBND phường Bích Đào, TPNB,NB; - UBND phường Ninh Sơn, TPNB, NB; - Lưu VP, HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Phương |