vanban.org

Bản án 55/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 11, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo N H Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo N H Q 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2021. Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là hai gói niêm phong ghi s ố vụ 1575, bên trong chứ a ma túy cò n lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 79/ĐCSMT ngày 29/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N H Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/HS-ST
Ngày 16/11/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đàm Thu Ánh

2. Ông Huỳnh Lý Chung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Đỗ Doãn Đại - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2021 tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

N H Q, sinh ngày 13/02/1994; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: xx Hồng Bàng, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Phòng số x, nhà số x Trịnh Đình Trọng, phường xx, quận xx, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N H Qg và bà L T K; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 27/3/2019, bị Công an Phường 11 Quận 6 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 13123/QĐ-XPVPHC; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2021; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông N B H; nơi cư trú: xx Lạc Long Quân, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Ông B X T; nơi cư trú: xx Dương Đình Nghệ, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông N T D, sinh năm 1990; nơi cư trú: ấp xx, xã xxx, huyện xx, tỉnh Tiền Giang; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/3/2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Quận 11 phát hiện đối tượng Nguyễn Hồng Quân đang di chuyển đến trướ c nhà s ố 341/31F đườ ng L ạc Long Quân, Phường 5, Quận 11 có biểu hiện nghi vấn và nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện tại túi quần sau bên trái của đối tượng Q có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu nghi là ma túy được gói trong tờ tiền Việt Nam mệnh giá 2.000 đồng. Đối tượng Q khai nhận là ma túy định bán cho đối tượng tên Duy và hẹn giao ma túy tại hẻm 341 Lạc Long Quân. Tiến hành rà soát hẻm 341 Lạc Long Quân, Công an đã phát hiện đối tượng N T D đang đứng trước nhà số 341/19 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11 là người chuẩn bị mua ma túy của đối tượng Q nên Công an Quận 11 áp giải người, vật chứng và phương tiện về trụ sở Công an Phường 15 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với đối tượng N H Q.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của đối tượng Nguyễn H ồng Quân ta ̣i phòng số x nhà trọ số x Trịnh Đình Trọng, phường xx, quận xx, Công an phát hiện và thu giữ: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 kéo; 01 kẹp gắp; 10 ống hút nhựa; 02 ống thủy tinh đầu phểu tròn; 20 vỏ túi nylon và 01 bình gas mini.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của đối tượng Q. Tại bản kết luận giám định số 1715/KLGĐ-MT ngày 15/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong có ký hiệu m1, bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên N H Q và hình dấu Công an Phường 5, Quận 11 là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2966g.

- Gói 2 được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên N H Q và hình dấu Công an phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú, bên trong có:

+ Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m2) là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, khối lượng 0,1747g.

+ Tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon (ký hiệu mẫu m3) là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine, khối lượng 0,1329g.

Tại Cơ quan điều tra, bị can N H Q khai nhận: Vào trưa ngày 10/3/2021, bị can Q nhận được tin nhắn của đối tượng N T D (Phát) hỏi mua ma túy đá với giá 300.000 đồng và he ̣n đến hẻm 341 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11 để giao ma túy. Sau đó bị can Q mang theo 01 gói ma túy đư ợc quấn trong tờ tiền mệnh giá 2000 đồng để trong túi quần sau bên trái và điều khiển xe mô tô biển số 59H1-128.15 đến hẻm 341 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11 đứng đợi đối tượng D để giao ma túy nhưng chưa kịp giao thì bị Công an bắt giữ. Bị can Q khai quen biết đối tượng D ngoài xã hội được khoảng 01 tháng và đã bán ma túy cho đối tượng D được hai lần . Lần đầu vào ngày 08/3/2021, bị can Q bán ma túy cho đối tượng D vớ i giá 300.000 đồng ta ̣i hẻm 341 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11. Lần thứ 2 vào ngày 10/3/2021, bị can Q tiếp tu ̣c bán ma túy cho đối tượng D vớ i giá 300.000 đồng cũng tại địa điểm trên nhưng chưa giao di ̣ch thi bi ̣̀ bắt . Ngoài ra, khi khám xét nơi ở của bị can Q tại phòng số x nhà trọ số x Trịnh Đình Trọng, phường xx, quận xx phát hiện và thu giữ thêm 02 gói ma túy. Đây là số ma túy bị can Q cất giữ dùng để bán lại khi có người hỏi mua. Về nguồn gốc số ma túy, bị can Q khai là mua của một người tên Nhóc (không rõ lai lịch) với giá 1.000.000 đồng về bán lại khi có người hỏi mua. Sau khi bán ma túy thu lại được tiền vốn ban đầu mà bị can mua ma túy thì số ma túy còn dư la ̣ibị can dùng để sử du ̣ng.

Đối tượng N T D (Phát) khai nhận: Vào trưa ngày 10/3/2021, đối tượng D nhắn tin cho bị can N H Q hỏi mua ma túy với giá 300.000 đồng để sử du ̣ng và he ̣n bị can đến hẻm 341 đường Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11 để giao ma túy. Sau đó, đối tượng D đến đứng trước nhà số 341/19 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11 để đợi bị can Q giao ma túy thi bi ̣̀ Công an kiểm tra và đưa về tru ̣ sở Công an Phườ ng 5, Quâ ̣n 11 làm việc. Trướ c đó, đối tượng D biết bị can Q được khoảng 01 tháng do cả hai gặp, biết nhau ngoài xã hội và đối tượng D biết được bị can Q có bán ma túy nên đối tượng D mua ma túy của bị can Q về sử du ̣ng . Đối tượng D đa mua ma tũ

́y của bị can Q được 02 lần. Cụ thể, lần đầu vào ngày 08/3/2021, đối tượng D mua ma túy vớ i giá 300.000 đồng, giao nhận ma túy tại hẻm 341 Lạc Long Quân. Đến ngày 10/3/2021, đối tượng D tiếp tu ̣c hỏi mua ma túy của bị can Q vớ i giá 300.000 đồng cũng hẹn giao dịch ở hẻm 341 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11 nhưng chưa thực hiê ̣n giao di ̣ch thì bị bắt. Mục đích đối tượng D mua ma túy là để sử dụng.

Vật chứng thu giữ:

- 2 gói niêm phong ghi vụ số 1575 bên ngoài có chữ ký giám định viên và cán bộ điều tra bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng hồng do bị can Q dùng để liên lạc mua bán ma túy.

- 01 kéo; 01 kẹp gắp; 01 bình gas mini; 02 ống thủy tinh đầu phểu tròn; 10 ống hút nhựa; 01 hộp nhựa; 20 vỏ túi nylon không chứa gì. Đây là số đồ vật do bị can Q dùng để sử dụng và phân chia ma túy.

- Tiền Việt Nam 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) là tiền cá nhân của bị can Q.

- Tiền Việt Nam 2.000 đồng là tờ tiền do bị can Q dùng để cất giấu ma túy.

- 01 điện thoại di động hiệu ASUS màu trắng đen là tài sản của đối tượng D dùng để liên lạc với bị can Q để mua ma túy.

- Tiền Việt Nam 300.000 đồng là tiền của đối tượng D dùng để mua ma túy của bị can Q.

- 01 xe mô tô hiệu Honda Click màu đỏ đen biển số 59H1-128.15. Qua xác minh, Công an xác định được xe mô tô biển số 59H1-128.15 do bà L T T Ph đứng tên chủ sở hữu. Bà L T T Ph không còn thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều t ra Công an Quận 11 đa có văn b ản đăng báo tìm chủ sở̃ hữu chiếc xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc.

Tại Bản cáo trạng số 55/CT-VKSQ11 ngày 21/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo N H Q tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo N H Q có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Người làm chứng là ông N B H và ông B X T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông N T D vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị xử phạt bị cáo N H Q từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập để đảm bảo việc thi hành; đề nghị xử lý vật chứng như sau: Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một gói niêm phong ghi số vụ 1575, bên trong chứ a ma túy còn lại sau giám định; tịch thu, tiêu hủy 01 kéo, 01 kẹp gắp, 01 bình gas mini, 02 ống thủy tinh đầu phểu tròn, 10 ống hút nhựa, 01 hộp nhựa, 20 vỏ túi nylon; tịch thu sung ngân sách nhà nước 302.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu ASUS màu trắng đen, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng hồng ; trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 đồng. Giao cho Cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục đăng báo truy tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô hiệu Honda Click màu đỏ đen biển số 59H1-128.15; trường hợp không xác định được thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 10/3/2021, tại trước hẻm 341 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, bị cáo N H Q đã có hành vi cất giữ và hẹn giao dịch bán ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,2966 gam (không phẩy hai chín sáu sáu gam) cho đối tượng N T D với giá là 300.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi cất giữ hai gói ma túy loại Ketamine, khối lượng là 0,1747 gam (không phảy một bảy bốn bảy gam) và 0,1329 gam (không phảy một ba hai chín gam) tại địa chỉ phòng số x nhà trọ số x Trịnh Đình Trọng, phường xx, quận xx nhằm dùng để bán.

Bị cáo N H Q đã thực hiện hành vi bán ma túy cho đối tượng N T D hai lần. Lần đầu là vào ngày 08/3/2021 tại hẻm 341 Lạc Long Quân, Phường 5, Quận 11, bán với giá là 300.000 đồng. Lần thứ hai là vào ngày 10/3/2021, bị cáo Q chưa kịp giao dịch bán cho đối tượng D thì bị bắt giữ.

Hành vi của bị cáo N H Q đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo N H Q thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thu lợi chênh lệch để sử dụng ma túy nên không xác định được số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy.

Hành vi của bị cáo N H Q đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự xã hội. Bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo N H Q được xác định là đã thực hiện một lần hoàn thành bán chất ma túy cho đối tượng N T D và một lần chưa kịp bán ma túy cho đối tượng D thì bị bắt giữ. Do đó, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng là hai gói niêm phong ghi vụ số 1575 là ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật chứng là 01 kéo, 01 kẹp gắp, 01 bình gas mini, 02 ống thủy tinh đầu phểu tròn, 10 ống hút nhựa, 01 hộp nhựa, 20 vỏ túi nylon; đây là những dụng cụ mà bị cáo N H Q dùng để phân chia ma túy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen và một điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng hồng, là tài sản bị cáo Q sử dụng làm phương tiện dùng để liên lạc mua bán ma túy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu ASUS màu trắng đen là tài sản của đối tượng D dùng để liên lạc với bị cáo Q để mua ma túy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là số tiền 100.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đây là tiền cá nhân của bị cáo Q, không có liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.

- Đối với vật chứng là số tiền 302.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đây là tiền dùng vào việc mua bán ma túy. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với vật chứng là một xe mô tô hiệu Honda Click màu đỏ đen biển số 59H1-128.15 là phương tiện do bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Qua xác minh, Công an xác định được xe mô tô biển số 59H1-128.15 do bà L T T Ph đứng tên chủ sở hữu. Bà L T T Ph không còn thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu ận 11 đa có văn b ản đăng báo tìm chủ sở̃ hữu chiếc xe mô tô trên nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nêu trên chưa xác định được chủ sở hữu nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về xem xét việc phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo không xác định được số tiền thu lợi bất chính, thừa nhận việc bán ma túy nhằm mục đích thu lợi chênh lệch để sử dụng ma túy. Ngoài lời khai nhận của bị cáo thì không có căn cứ nào khác thể hiện bị cáo đã thực tế hưởng lợi bao nhiêu tiền nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Ngoài ra, do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành khoản nộp phạt nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về xem xét vai trò, trách nhiệm của các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với đối tượng tên Nhóc là người đã có hành vi bán ma túy cho bị cáo N H Q, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng N T D, do ngày 10/3/2021 bị cáo Q chưa thực hiện được hành vi bán ma túy cho đối tượng D, do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với đối tượng D và đưa đối tượng D vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là có cơ sở.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo N H Q, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo N H Q;

Tuyên bố bị cáo N H Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo N H Q 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2021.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là hai gói niêm phong ghi s ố vụ 1575, bên trong chứ a ma túy cò n lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 79/ĐCSMT ngày 29/6/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Tịch thu, tiêu hủy 01 kéo, 01 kẹp gắp, 01 bình gas mini, 02 ống thủy tinh đầu phểu tròn, 10 ống hút nhựa, 01 hộp nhựa, 20 vỏ túi nylon (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 45/ĐCSMT ngày 15/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Trả lại cho bị cáo N H Q số tiền 100.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 45/ĐCSMT ngày 15/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen, một điện thoại di động hiệu OPPO màu trắng hồng và một điện thoại di động hiệu ASUS màu trắng đen (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 45/ĐCSMT ngày 15/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 302.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 45/ĐCSMT ngày 15/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Giao cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 11 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe mô tô hiệu Honda Click màu đỏ đen biển số 59H1-128.15. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 45/ĐCSMT ngày 15/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ