- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2021/HS-ST Ngày 27-09-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Thanh Nghĩa và bà Nguyễn Thị Nhiễu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Duy H, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1989 tại Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Duy N và bà Phạm Thị L; gia đình có 03 anh em; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 10/2010/HSST ngày 09/02/2010 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình, xử phạt 20 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự; Bản án số 37/2010 ngày 07/9/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xử phạt 05 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự (bản án này xác định H phạm tội thuộc trường hợp tái phạm). Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án số 10/2010/HSST ngày 09/02/2010 của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình còn lại là 08 tháng 17 ngày. Buộc Phạm Duy H phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 06 năm 02 tháng 17 ngày. H chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 27/01/2015, chấp hành xong trách nhiệm dân sự và án phí vào năm 2013; Bản án số 15/2016/HSST ngày 20/07/2016 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh N, xử phạt 05 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự (Bản án này xác định H phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm). H chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/12/2020, chấp hành xong án phí hình sự ngày 24/04/2018. Bị cáo bị bắt ngày 02/7/2021, tạm giữ từ ngày 03/7/2021 đến ngày 09/7/2021 chuyển tạm giam, tại Nhà tạm giữ Công an huyện V; có mặt.
- Người chứng kiến và người làm chứng:
1. Anh Hoàng Đình N, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn T, xã S huyện V, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
2. Anh Bùi Hữu Q, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn T, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ ngày 02/7/2021, tổ công tác thuộc Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình làm nhiệm vụ tại trục đường thôn M xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình thì phát hiện Phạm Duy H điều khiển xe mô tô đang dừng xe trên đường, có biểu hiện nghi vấn nên đã giữ H lại yêu cầu kiểm tra, đã phát hiện và thu giữ trong túi quần sóoc bên phải phía trước H đang mặc 05 gói, đều được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Tổ công tác đã dẫn giải H đến trụ sở UBND xã V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, quản lý xe mô tô của H.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo H khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 01/7/2021, H điều khiển xe mô tô từ nhà đến khu vực đê Q, thuộc xã M, huyện M, tỉnh N để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, H gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 05 gói Heroine trên với giá 500.000 đồng, cất giấu vào trong túi quần rồi đi về nhà. Đến khoảng 20 giờ ngày 02/7/2021, H mang 05 gói Heroine định đến nghĩa trang thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 262/KLGĐ-PC09 ngày 05/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Vật chứng trong Phong bì niêm phong gửi giám định thu giữ của Phạm Duy H là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,5508 gam”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Duy H không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình nêu trên.
Bản cáo trạng số: 54/CT-VKSVT ngày 14 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o, khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt: Áp dụng điểm o, khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Duy H từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/7/2021.
*Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy quản lý của bị cáo Phạm Duy H, sau khi lấy mẫu giám định còn lại 0,5278 Heroine.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha – Sirius, biển kiểm soát 17B2 – 583.65 quản lý của bị cáo là tài sản của ông Phạm Duy N (bố đẻ bị cáo); ông N không biết việc bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông Nhị là có căn cứ.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo không có ý kiến và tranh luận gì về quyết định truy tố và Bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, với hành vi bản cáo trạng đã mô tả và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lập, bản ảnh chụp vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập ngày 02/7/2021, tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định số 262/KLGĐMT-PC09 ngày 05/7/2021 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ ngày 02/7/2021, tại đường trục thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Duy H có hành vi cất giấu trái phép 05 gói Heroine, có tổng khối lượng 0,5508 gam trong túi quần sóoc bên phải phía trước, mục đích để sử dụng cho bản thân. Về căn cứ xác định, định khung đối với bị cáo: Bị cáo đã bị kết án tại Bản án số 15/2016/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2016, ngày 29 tháng 12 năm 2020, chấp hành án phí hình sự ngày 24 tháng 4 năm 2018 xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Lần phạm tội này, bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” khi chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o, khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…..
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm;
….
o)Tái phạm nguy hiểm;
……”
Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Trong những năm gần đây, tình hình tệ nạn ma túy đã và đang trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Ma túy gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Đặc biệt, ma túy còn là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án, trong đó có lần gần nhất bị cáo bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa, tu dưỡng bản thân, trở thành người tốt, thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục có hành vi tàng trữ ma túy, thể hiện sự ngang nhiên, coi thường pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định; bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng và không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,5278 gam ma túy, loại Heroine hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 262/KLGĐMT - PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
Đối với người bán ma túy: Bị cáo Phạm Duy H khai mua của một người phụ nữ không quen biết tên và địa chỉ tại khu vực quán C, thuộc xã M, huyện M, tỉnh Nam Định nên không có căn cứ điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Duy H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/7/2021.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,5278 gam ma túy, loại Heroine, thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 262/KLGĐMT - PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng đã được chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình theo Biên bản nhập kho ngày 16/9/2021).
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/9/2021).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình; - Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Huyền |