vanban.org

Bản án 55/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 24/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH SÓC TRĂNG
__________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/HS-ST
Ngày: 24-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Cơ

Bà Lưu Thị Hồng Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Tr m Minh Khang – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2021/HSST-QĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021; Thông báo dời phiên tòa số 109/TB-TA ngày 17 tháng 11 năm 2021; Thông báo dời phiên tòa số 117/TB-TA ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với:

- Bị cáo: Lê V L (tên thường g i: LB), sinh năm 1997 tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: p H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: p H, xã H1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N, sinh năm 1976 (S) và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1978 (S); Vợ và con: Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 08 tháng t tại bản án số 02/2015/HSST ngày 13/01/2015 về tội trộm c p tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ lu t hình sự năm 1999. Đến ngày 16/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng t tại bản án số 07/2015/HSST ngày 16/3/2015 về tội trộm c p tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ lu t hình sự năm 1999 t ng hợp hình phạt tại bản án số 02/2015/HSST ngày 13/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện M đã xét xử bị cáo là 08 tháng t về tội trộm c p tài sản . Như v y, bị cáo phải ch p hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 05 tháng t . Ch p hành xong hình phạt t vào ngày 30/5/2016 đã được xóa án tích . Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 14/6/2021, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay bị cáo có mặt .

- Người làm chứng: Ông Liêu Trường D, sinh năm 2002 v ng mặt .

Địa chỉ: p C, xã G1, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào lúc 01 giờ 00 phút, ngày 14/6/2021 Lê V L điều khiển xe mô tô biển số 54X3-0692 chở Liêu Trường D đi trên đường Huyện lộ 52, thuộc p A, xã G2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng hướng về xã G1, huyện M thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Đội CSĐTTP về HS-KT-MT) Công an huyện M trong quá trình tu n tra phát hiện Lê V L có biểu hiện nghi v n nên yêu c u L dừng xe để kiểm tra, lúc này L d ng tay trái c m 01 bịch nylon ch a tinh thể r n màu tr ng quăng xuống đường lộ, đồng thời L quay đ u xe định điều khiển xe b chạy nhưng xe bị ngã, L và D té xuống lộ, L ngã cạnh bịch nylon ch a tinh thể r n màu tr ng nghi v n là ma túy và bị lực lượng Công an huyện M b t quả tang Lê V L, Liêu Trường D có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy. Quá trình b t quả tang, công an thu giữ và niêm phong v t ch ng gồm:

- Thu giữ của Lê V L: 01 một bịch nylon không màu, loại b c kiếng v thuốc lá, có kích thước 8 x 6 cm, bên trong ch a tinh thể màu tr ng, nghi là ma túy. Niêm phong và ký hiệu MT-QT; 01 một điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4+, màu đen, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sêri: R58KC2SPHNF, số Imei 1: 352987108046402, số Imei 2: 352988108046400, đã qua sử dụng, còn hoạt động, m t khẩu mở khóa điện thoại: 140597, đang sử dụng 02 sim có số thuê bao: 0567254525 sim 1 và 0369253530 sim 2 .

- Thu giữ của Liêu Trường D và đã xử lý v t ch ng trong giai đoạn điều tra, trả lại cho Liêu Trường D gồm: 01 một chiếc xe mô tô biển số 54X3-0692, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave S, màu đen - xám, số máy: E-1559233, số khung: Y-032774, đã qua sử dụng; 01 một điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, màu: Đen, số kiểu máy: SM-A105G/DS, số seri: R58M60234BP, số Imei 1: 355853107574777, số Imei 2: 355854107574775, điện thoại đã qua sử dụng, còn hoạt động, màn hình bị rạn n t, đang sử dụng sim có số thuê bao: 0353807535.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê V L khai nh n như sau: Bản thân LB t đ u sử dụng ma túy đá từ năm 2018 cho đến nay, nhưng không sử dụng thường xuyên. Khoảng 20 giờ ngày 13/6/2021, sau khi uống rượu c ng với Liêu Trường D xong thì L g i điện thoại cho một người quen ngoài xã hội tên L1 (L không r h tên cụ thể, chỉ biết L1 nhà ở huyện V nh L1, tỉnh Bạc Liêu , L1 rủ bị cáo đến Bạc Liêu nh u, bị cáo đồng ý và rủ D c ng đi chung. D điều khiển xe mô tô biển số 54X3-0692 chở L đi đến thành phố Bạc Liêu thì L1 chỉ đường cho D chở L đến quán cà phê Cẩm Tú để gặp L1. L1 d n L và D về nhà của L1 gửi xe mô tô tại nhà L1, sau đó L1 d ng xe ô tô 07 chỗ không r biển số chở L và D đi uống rượu ở một quán rượu tại thành phố Bạc Liêu. L, D và L1 uống rượu đến khoảng 23 giờ thì nghỉ và t t cả c ng quay về nhà của L1 để l y xe mô tô về. D đ ng ở ngoài đợi L, còn L đi vào nhà L1 để l y xe thì L1 h i L Có chơi đồ không , L hiểu là L1 h i L có sử dụng ma túy đá không, L trả lời Có, anh cho em xin ít đi để em đem về nhà chơi , L1 l y ra một bao thuốc lá hiệu Hero l y 02 viên ma túy đá dạng tinh thể r n màu tr ng b vào lớp bao nylon trong suốt của bao thuốc lá, gói lại rồi đưa gói ma túy đá cho L. L c m gói ma túy trên ở tay trái. Sau đó L điều khiển xe mô tô biển số 54X3-0692 chở D quay về nhà để sử dụng số ma túy đá nêu trên, nhưng L không nói cho D biết việc vừa được L1 cho ma túy. L điều khiển xe mô tô chở D về đến đoạn đường thuộc p A, xã G2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 14/6/2021 thì gặp Công an đi tu n tra nên L ném b bịch ma túy đang c m trên tay trái xuống đường lộ và quay đ u xe định b chạy, nhưng bị ngã xe té xuống lộ nên L và D bị b t quả tang c ng tang v t và l p biên bản b t người phạm tội quả tang Lê V L có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy, thu giữ và niêm phong các tang v t nêu trên.

Quá trình điều tra Liêu Trường D trình bày: Vào khoảng 20 giờ ngày 13/6/2021 sau khi uống rượu với L thì D có điều khiển xe mô tô 54X3-0692 chở L đi thành phố Bạc Liêu nh u c ng với một người tên L1. Khi đến nhà của L1 thì gửi xe mô tô tại nhà L1, sau đó L1 d ng xe ô tô 07 chỗ chở L và D đi đến một quán rượu ở thành phố Bạc Liêu c ng uống rượu. đến khoảng 23 giờ thì nghỉ uống và quay lại nhà L1 để l y xe mô tô, L điều khiển xe chở D về nhà. Khi cả hai đi đến đoạn đường thuộc p A, xã G2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng là khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 14/6/2021 thì gặp Công an đang tu n tra, b t ngờ L quay đ u xe b chạy nên làm cả hai bị té ngã xuống đường lộ và bị Công an giữ lại. Trong lúc kiểm tra thì Công an phát hiện chỗ L té có 01 bịch nylon đựng tinh thể r n màu tr ng và L khai đó là ma túy đá của L, do L1 cho L để sử dụng thì D mới biết L có tàng trữ ma túy.

Tại Bản kết lu n giám định số 85/GĐMT-PC09 ngày 21/6/2021 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết lu n: M u tinh thể r n màu tr ng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1791 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng sau giám định gồm: 0,1564 gam tinh thể màu tr ng và toàn bộ v bao gói. Toàn bộ m u v t, v bao gói được hoàn trả trong phong bì màu tr ng có viền s c màu xanh – đ , niêm phong ghi số 85/GĐMT-PC09.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê V L đã khai nh n hành vi phạm tội của mình như trên đã nêu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về kết lu n giám định.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSMX ngày 22/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Lê V L về Tội tàng trữ trái phép ch t ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê V L về tội tàng trữ trái phép ch t ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử ch p nh n cáo trạng số 49/CT-VKSMX ngày 22/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ lu t hình sự: Xử phạt bị cáo Lê V L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Về v t ch ng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong b ng gi y ch a m u v t là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,1564 gam, được Phòng kỹ thu t Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng niêm phong và hoàn trả sau giám định; Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự giao trả lại cho bị cáo Lê V L 01 một điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 , màu đen, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sêri: R58KC2SPHNF, số Imei 1: 352987108046402, số Imei 2: 352988108046400, điện thoại đã qua sử dụng, còn hoạt động, m t khẩu mở khóa điện thoại: 140597, đang sử dụng 02 sim có số thuê bao: 0567254525 sim 1 và 0369253530 sim 2 . Đã được niêm phong và ký hiệu: ĐT-L; Đối với Liêu Trường D đi chung với bị cáo L khi bị b t quả tang, nhưng qua điều tra thì D không biết và không có hành vi giúp s c cho L tàng trữ trái phép ch t ma túy, không có ch ng c ch ng minh Liêu Trường D có liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy của Lê V L, nên cơ quan CSĐT Công an huyện M trả tự do ngay sau khi b t quả tang và không đặt ra xem xét là có căn c ; Đối với người đàn ông tên L1 ở tỉnh Bạc Liêu mà L khai đã cho L ma túy để L tàng trữ, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện M chưa xác định được h , tên, địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sở để xử lý, khi nào xác định được s xử lý sau là có căn c . Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về ngh a vụ chịu án phí theo quy định của pháp lu t.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, người làm ch ng Ông Liêu Trường D v ng mặt. Hội đồng xét xử xét th y, tại giai đoạn điều tra người làm ch ng có tên nêu trên đã có lời khai, việc v ng mặt của h không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử thống nh t áp dụng khoản 1 Điều 293 Bộ lu t tố tụng hình sự xét xử v ng mặt h .

Về nội dung:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê V L thừa nh n toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét lời thừa nh n tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, ph hợp với lời khai của người làm ch ng, ph hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết lu n giám định và các tài liệu ch ng c khác thể hiện trong hồ sơ. Do đó, có cơ sở xác định: Vào lúc 01 giờ 00 phút ngày 14/6/2021, tại p A, xã G2, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, Đội CSĐTTP về HS-KT-MT Công an huyện M đã kiểm tra và b t quả tang Lê V L có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy, khối lượng ma túy bị thu giữ niêm phong gửi giám định t ng khối lượng là 0,1791 gam. Hoàn lại đối tượng sau giám định t ng khối lượng 0,1564 gam, loại Methamphetamine.

Tại Bản kết lu n giám định số 85/GĐMT-PC09 ngày 21/6/2021 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết lu n: M u tinh thể r n màu tr ng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1791 gam, loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng sau giám định gồm: 0,1564 gam tinh thể màu tr ng và toàn bộ v bao gói. Toàn bộ m u v t, v bao gói được hoàn trả trong phong bì màu tr ng có viền s c màu xanh – đ , niêm phong ghi số 85/GĐMT-PC09.

Mục đích của bị cáo tàng trữ trái phép ch t ma túy nói trên là để sử dụng. Cho nên, có căn c xác định bị cáo Lê V L phạm Tội tàng trữ trái phép ch t ma túy . Do đó, cáo trạng số 49/CT-VKSMX ngày 22/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo Lê V L về Tội tàng trữ trái phép ch t ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự là có căn c , nên Hội đồng xét xử ch p nh n.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê V L là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên và có đ y đủ năng lực hành vi để biết r ng việc tàng trữ trái phép ch t ma tuý là vi phạm pháp lu t và bị pháp lu t nghiêm c m, nhưng bị cáo v n cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép ch t ma túy với khối lượng bị b t quả tang 0,1791 gam; khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,1564 gam loại Methamphetamine, Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về ch t ma túy. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh tr t tự tại địa phương. Cho nên, đối với bị cáo c n phải xử nghiêm, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và góp ph n phòng chống tội phạm chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê V L không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ lu t hình sự.

Về Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự để giảm cho bị cáo một ph n hình phạt.

Về xử lý v t ch ng:

- Đối với 01 gói niêm phong b ng gi y ch a m u v t là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,1564 gam, được Phòng kỹ thu t Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng niêm phong và hoàn trả sau giám định Nhà nước c m tàng trữ, c m lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự.

- Điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 , màu đen, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sê ri: R58KC2SPHNF, số Imei 1: 352987108046402, số Imei 2: 352988108046400, điện thoại đã qua sử dụng, còn hoạt động, m t khẩu mở khóa điện thoại: 140597, đang sử dụng 02 sim có số thuê bao: 0567254525 sim 1 và 0369253530 sim 2 . Đã được niêm phong và ký hiệu: ĐT-L không phải v t ch ng liên quan đến vụ án nên giao trả lại cho bị cáo Lê V L theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự.

- Đối với các v t ch ng gồm: 01 một chiếc xe mô tô biển số 54X3-0692, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave S, màu đen - xám, số máy: E-1559233, số khung: Y-032774, đã qua sử dụng; 01 một điện thoại di động, nhãn hiệu; Samsung Galaxy A10, màu: Đen, số kiểu máy: SM-A105G/DS, số seri: R58M60234BP, số Imei 1: 355853107574777, số Imei 2: 355854107574775, điện thoại đã qua sử dụng, còn hoạt động, màn hình bị rạn n t, đang sử dụng sim có số thuê bao: 0353807535. Trong giai đoạn điều tra đã xử lý v t ch ng trả lại cho Liêu Trường D nên không đặt ra xem xét.

Đối với Liêu Trường D đi chung với bị cáo L khi bị b t quả tang, nhưng D không biết và không có hành vi giúp s c cho L tàng trữ trái phép ch t ma túy, không có ch ng c ch ng minh Liêu Trường D có liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy của Lê V L, nên cơ quan CSĐT Công an huyện M trả tự do ngay sau khi b t quả tang và không đặt ra xem xét là có căn c .

Đối với người đàn ông tên L1 ở tỉnh Bạc Liêu mà L khai đã cho L ma túy để L tàng trữ, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện M chưa xác định được h , tên, địa chỉ cụ thể, nên không có cơ sở để xử lý, khi nào xác định được s xử lý sau là có căn c .

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn c nên Hội đồng xét xử ch p nh n.

Về án phí: Bị cáo Lê V L là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ lu t tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các l trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ lu t hình sự.

Căn c điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ lu t tố tụng hình sự;

Căn c điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Lê V L phạm Tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy .

Xử phạt bị cáo Lê V L 01 (một) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt t tính từ ngày 14/6/2021.

Về v t ch ng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong b ng gi y ch a m u v t là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,1564 gam, được Phòng kỹ thu t Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng niêm phong và hoàn trả sau giám định.

- Trả lại cho bị cáo Lê V L 01 một điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 , màu đen, số kiểu máy: SM-J415F/DS, số sêri: R58KC2SPHNF, số Imei 1: 352987108046402, số Imei 2: 352988108046400, điện thoại đã qua sử dụng, còn hoạt động, m t khẩu mở khóa điện thoại: 140597, đang sử dụng 02 sim có số thuê bao: 0567254525 sim 1 và 0369253530 sim 2 .

Về án phí: Bị cáo Lê V L phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nh n:

Cỡ chữ