vanban.org

Bản án 55/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 13/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/HS - ST
Ngày: 13/7/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Đô

Ông Đỗ Văn Bộ

- Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:

+ Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm- Kiểm sát viên.

Ngày 13/7/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2021/TLST-HS ngày 29/6/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST-HS ngày 01/7/2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H - sinh năm 1974

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn HG, xã HL, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12;

Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Con ông: Nguyễn Văn Xuân (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Lĩnh, sinh năm 1944 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Lý, sinh năm 1974.

Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1997.

Gia đình có 03 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 2.

Tiền án:

- Bản án số: 64/2012/HSST ngày 25/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 02/3/2014. Chưa thi hành hình phạt bổ sung 05 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.

- Bản án số 60/2015/HSST ngày 14/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt Nguyễn Văn H 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 31/3/2016. Chưa thi hành xong hình phạt bổ sung 03 triệu đồng và án phí 190.000 đồng.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2021 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/6/2021, tại đường bê tông liên xã thuộc thôn HG, xã HL, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Hiệp Hòa phối hợp cùng Công an xã Hoàng Lương, huyện Hiệp Hòa bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 ở thôn HG, xã HL, huyện Hiệp Hòa đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ: thu giữ tại cạp quần trong, quần mà Hiểu đang mặc 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên trong có: 10 (mười) gói giấy (loại giấy viết học sinh) hai mặt đều có dòng kẻ màu xanh, có chữ. Bên trong mỗi gói giấy đều có chứa chất cục bột màu trắng, Hiểu khai nhận đó là ma túy của Hiểu tàng trữ mục đích để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của Hiểu 01 chiếc điện thoại di động Nokia mặt trước màu đen, mặt sau màu xám đã qua sử dụng; 01 xe đạp màu đen, đỏ, xanh, không có lồng, đã qua sử dụng, có số khung OTC302788 và số tiền: 3.695.000 đồng (ba triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Cơ quan CSĐT Công an huyện Hiệp Hòa đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng nghi là ma túy trong phong bì thư ký hiệu “QT”.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H, kết quả: thu giữ bên trong tủ cầu giao điện âm tường ở vị trí góc nhà, trên cửa, bên phải khi đi từ ngoài vào: 01 lọ nhựa màu hồng đỏ, có nắp đậy, bên trong có 06 (sáu) gói giấy (loại giấy viết học sinh), bên trong các gói giấy đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng và 01 viên nén màu hồng đỏ, đều nghi là ma túy. Thu giữ tại cửa sổ phòng khách: 01 con dao lam nhãn hiệu CROMA; 07 mẩu giấy (loại giấy viết học sinh) đều có dòng kẻ màu xanh và chữ số màu xanh. Cơ quan điều tra đã niêm phong số ma túy thu giữ trong phong bì thư ký hiệu “KX” .

Ngày 15/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang giám định số vật chứng thu giữ nghi là ma túy khi bắt quả tang và khám xét khẩn cấp.

Tại Kết luận giám định số 1002/KL-KTHS ngày 17/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“5.1. Trong phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

Chất cục bột màu trắng đựng trong 10 (mười) gói giấy, loại giấy viết học sinh, hai mặt có dòng kẻ màu xanh, có chữ đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,729 gam, loại Heroin.

5.2. Trong phong bì ký hiệu “KX”, đã được niêm phong gửi giám định:

* Trong 01 (một) lọ nhựa màu hồng đỏ có nắp đậy:

- Chất cục bột màu trắng đựng trong 06(sáu) gói giấy, loại giấy viết học sinh đều có dòng kẻ, chữ và số màu xanh đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,338 gam, loại Heroin.

- Trong 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ:

+ Chất cục bột màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng 3,531 gam, loại Heroin.

+ 01 viên nén màu hồng đỏ là ma túy, có khối lượng 0,097 gam loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội và nguồn gốc số ma túy của bị can như sau:

Nguyễn Viết Hiểu là người nghiện ma túy, Hiểu khai nhận: khoảng 10 giờ ngày 13/6/2021, Hiểu mang theo 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng), đi xe đạp đến khu vực cầu Ca thuộc thôn Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên mục đích để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, Hiểu đứng ở rìa đường khoảng 10 phút thì có một thanh niên điều khiển xe máy đến gần hỏi Hiểu có mua ma túy không? Hiểu trả lời “Có”; người thanh niên hỏi tiếp “Mua bao nhiêu tiền”, Hiểu trả lời “mua triệu rưỡi, hàng trắng” (tức ma túy loại Heroine). Sau khi Hiểu lấy tiền và đưa cho người thanh niên đó, người thanh niên lấy từ trong túi quần 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy rồi đưa cho Hiểu, Hiểu kiểm tra thấy bên trong thấy có chứa ma túy liền đút vào túi quần rồi đi về. Về tới nhà, Hiểu chia một phần số ma túy ra thành 18 phần nhỏ để sử dụng dần, Hiểu dùng dao lam, cắt giấy từ vở học sinh ra thành nhiều mảnh để gói ma túy vừa chia nhỏ xong. Hiểu tiếp tục bỏ 12 gói ma túy nhỏ vào 01 túi ni lon rồi mang theo bên người; số ma túy Heroine còn lại và viên ma túy hồng phiến cùng 06 gói nhỏ ma túy Heroine, Hiểu để vào trong một hộp nhựa màu hồng có nắp đậy và để vào tủ cầu giao điện âm tường trong nhà. Đến sáng ngày 15/6/2021, Hiểu đã sử dụng hết 02 gói ma túy nhỏ, còn 10 gói ma túy Hiểu để trong cạp quần Hiểu đang mặc trên người. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Hiểu lấy xe đạp đi ra quán tạp hóa ở đầu làng để mua nước uống, khi đi đến đoạn đường bê tông liên thôn thì bị Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Với nội dung trên Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKS-HH ngày 28/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2, Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Văn H từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/6/2021. Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

3,Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a,c khoản 1 Điều 47 BLHS.

-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có ký hiệu “KX” bên trong có chứa 01 lọ màu hồng đỏ có nắp đậy, bên trong lọ nhựa có chứa ma túy đã được niêm phong; 01 con dao lam nhãn hiệu CROMA; 01 phong bì có ký hiệu “QT” bên trong chứa chất ma túy đã được niêm phong; 07 mảnh giấy, loại giấy viết học sinh đều có dòng kẻ màu xanh, chữ và số màu xanh.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động đã được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “QT”; 01 chiếc xe đạp không có lồng, xe màu đen, đỏ, xanh đã qua sử dụng, số khung OTC302788 và số tiền 3.695.000đồng. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4, Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H có mặt tại phiên tòa cũng đã hoàn toàn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra thu thập, đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 15/6/2021, tại đường bê tông liên xã thuộc thôn HG, xã HL, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 ở thôn HG, xã HL, huyện Hiệp Hòa đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện Hiệp Hòa bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Văn H đã tàng trữ 4,598 gam ma túy loại Heroine và 0,097 gam ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là 4,695 gam, Hiểu khai mục đích tàng trữ số ma túy trên để sử dụng.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ cho đời sống cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, là nguy cơ lây truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS… Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển… trái phép chất ma tuý. Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này.

Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền lợi chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là đối tượng có nhân thân và tiền án về hành vi tàng trữ ma túy, nhận thức rất rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố tình thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng của bị cáo thì thấy: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 02/3/2014. Chưa thi hành hình phạt bổ sung 05 triệu đồng sung công quỹ nhà nước. Đến năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt Nguyễn Văn H 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 31/3/2016. Chưa thi hành xong hình phạt bổ sung 03 triệu đồng và án phí 190.000 đồng. Do vậy lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bố đẻ của bị cáo được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần khi lượng hình.

. Đối với người đã bán ma túy cho Hiểu: Hiểu khai chỉ biết người đó là một nam thanh niên khoảng 27 đến 28 tuổi, Hiểu không biết tên, tuổi, địa chỉ, quan hệ của người đó. Vì vậy không có căn cứ để xác minh và xử lý người bán ma túy cho Hiểu.

. Về vật chứng của vụ án gồm: Đối với 01 phong bì có ký hiệu “KX” bên trong có chứa 01 lọ màu hồng đỏ có nắp đậy, bên trong lọ nhựa có chứa ma túy đã được niêm phong; 01 con dao lam nhãn hiệu CROMA; 01 phong bì có ký hiệu “QT” bên trong chứa chất ma túy đã được niêm phong; 07 mảnh giấy, loại giấy viết học sinh đều có dòng kẻ màu xanh, chữ và số màu xanh. Cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động đã được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “QT”; 01 chiếc xe đạp không có lồng, xe màu đen, đỏ, xanh đã qua sử dụng, số khung OTC302788 và số tiền 3.695.000đồng. Là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

. Về hình phạt bổ xung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, cần miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; Điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về hình phạt:

Xử phạt: Nguyễn Văn H: 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/6/2021. Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì có ký hiệu “KX” bên trong có chứa 01 lọ màu hồng đỏ có nắp đậy, bên trong lọ nhựa có chứa ma túy đã được niêm phong; 01 con dao lam nhãn hiệu CROMA; 01 phong bì có ký hiệu “QT” bên trong chứa chất ma túy đã được niêm phong; 07 mảnh giấy, loại giấy viết học sinh đều có dòng kẻ màu xanh, chữ và số màu xanh.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động đã được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “QT”; 01 chiếc xe đạp không có lồng, xe màu đen, đỏ, xanh đã qua sử dụng, số khung OTC302788 và số tiền 3.695.000đồng. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ