- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2021/HS-ST Ngày 09-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trang Thái Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Phúc;
Ông Lê Văn Rẽn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy An – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh Đ, sinh ngày 21/02/2000, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Duy N và bà Ngô Thị D; vợ con chưa có; tiền án: không có, tiền sự: Ngày 14/8/2020, bị Công an xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số: 72/QĐ-XPHC (chưa nộp phạt). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2021 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị D, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 07/7/2021, tại quán cà phê K thuộc ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Công an huyện Bến Cầu bắt quả tang Huỳnh Thanh Đ đang cất giấu 01 vỏ thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 bịch nilon chứa chất rắn tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) trong túi quần phía trước bên phải và 01 bịch nilon có chứa chất tinh thể rắn (nghi là ma túy) được cất giấu trong túi quần phía sau bên phải nên tiến hành bắt quả tang, tạm giữ người và vật chứng để làm rõ.
Quá trình điều tra, Đ khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ ngày 07/7/2021, Đ điều khiển xe mô tô biển số: 70F9-5043 của mẹ ruột là bà Ngô Thị D từ nhà đến khu vực bến xe Tây Ninh thuộc phường X, thành phố T, tỉnh Tây Ninh gặp 01 người đàn ông tên Tý (không rõ lai lịch) mua 02 bịch ma túy với giá 1.600.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua ma túy xong, Đ bỏ 01 bịch ma túy vào bao thuốc lá hiệu Jet cất giấu trong túi quần phía trước bên phải, bịch nilon còn lại Đ cất giấu vào túi quần phía sau bên phải và điều khiển xe mô tô đến thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh để sử dụng. Khi đến khu vực quán cà phê K thuộc ấp B, xã T, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an kiểm tra và bắt quả tang.
Kết luận giám định số: 1004/KL-KTHS, ngày 09/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nilon (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7771gam; Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nilon (ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3220gam.
Ngày 07/7/2021, kiểm tra nồng độ chất ma túy, phát hiện Huỳnh Thanh Đ có kết quả dương tính với chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 02 (hai) gói niêm phong vụ số: 1004/KL-KTHS; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei: 355843092681448; 01 (một) xe môtô, loại Wave, màu vàng, biển số: 70F9-5043, số máy 0FMH9072984, số khung 013LK9072984; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (tẩu) có đặc điểm: Thân bình là chai nhựa trong suốt, nắp chai bằng nhựa màu đen, trên nắp chai có gắn ống thủy tinh và một đoạn ống hút nhựa.
Tại bản Cáo trạng số: 76/CT-VKSBC ngày 20 tháng 8 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Huỳnh Thanh Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thanh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về mức hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Huỳnh Thanh Đ từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng trong vụ án theo quy định pháp luật.
Bị cáo Huỳnh Thanh Đ thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị D đã trình bày: Xe môtô, loại Wave, biển số: 70F9-5043 là do bà mua lại, bà cho Huỳnh Thanh Đ mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc Đ sử dụng xe tàng trữ trái phép chất ma túy nên bà đề nghị xin được nhận lại xe mô tô biển số: 70F9-5043. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Huỳnh Thanh Đ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Cầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về xác định tội danh và điều luật áp dụng:
Qua điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thanh Đ thừa nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 07/7/2021, bị cáo Đ mua 02 (hai) bịch ma túy cất giấu trong người và về đến khu vực quán cà phê K thuộc ấp B, xã T, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Kết luận giám định số: 1004/KL-KTHS, ngày 09/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nilon (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7771gam; Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nilon (ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3220gam. Tổng cộng là 1,0991gam chất ma túy loại Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Huỳnh Thanh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung là “...,Methamphetamine,…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng số: 76/CT-VKSBC ngày 20 tháng 8 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Huỳnh Thanh Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
Về tính chất vụ án: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bản thân của bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực kiểm soát, quản lý các chất ma túy và gây mất an ninh trật tự địa phương. Việc tàng trữ và sử dụng ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội. Người nghiện ma túy sẽ dễ bị thoái hóa nhân cách, rối loạn hành vi, có lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội nên cần nghiêm trị.
Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là quân nhân xuất ngũ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Đ có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn nên sẽ được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Áp dụng hình phạt: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo Đ là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội nghiêm trọng, có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.
Hình phạt bổ sung: Xét đề nghị của Kiểm sát viên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ. Bởi lẽ, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 02 (hai) gói niêm phong vụ số: 1004/KL-KTHS là ma tuý còn lại sau giám định và 01 (một) bộ dụng cụ (tẩu) có đặc điểm: Thân bình là chai nhựa trong suốt, nắp chai bằng nhựa màu đen, trên nắp chai có gắn ống thủy tinh và một đoạn ống hút nhựa là ma tuý và dụng cụ dùng để sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với tài sản thu giữ là 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 355843092681448 của bị cáo Huỳnh Thanh Đ không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên trả lại cho bị cáo, nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 (một) xe môtô, loại Wave, màu vàng, biển số: 70F9-5043, số máy 0FMH9072984, số khung 013LK9072984 là tài sản của bà Ngô Thị D, bà D không biết bị cáo Đ dùng xe thực hiện hành vi phạm tội nên không có lỗi, do đó trả lại xe môtô cho bà D.
Đối với người đàn ông tên Tý bán ma túy cho Đ, do không rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Huỳnh Thanh Đ, Công an huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính xong.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo Đ và bà D được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07 tháng 7 năm 2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) gói niêm phong vụ số: 1004/KL-KTHS là ma tuý còn lại sau giám định và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (tẩu) có đặc điểm: Thân bình là chai nhựa trong suốt, nắp chai bằng nhựa màu đen, trên nắp chai có gắn ống thủy tinh và một đoạn ống hút nhựa.
Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei: 355843092681448 (đã qua sử dụng) cho bị cáo Huỳnh Thanh Đ.
Trả lại 01 (một) xe môtô, loại Wave, màu vàng, biển số: 70F9-5043, số máy 0FMH9072984, số khung 013LK9072984 (đã qua sử dụng) cho bà Ngô Thị D.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 8 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh)
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Huỳnh Thanh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Huỳnh Thanh Đ được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Ngô Thị D được quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đối với những nội dung liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (vụ 1) - TAND cấp cao tại TP. HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Bến Cầu; - Công an huyện Bến Cầu; - Nhà tạm giữ; - Chi cục THADS huyện Bến Cầu; - Phòng lý lịch Sở tư pháp tỉnh; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trang Thái Châu |